Wednesday, February 13, 2013

Tiến sĩ Việt kiều và chuyên luận về mãi dâm

(NKT) - Tiến sĩ Kimberly kay Hoàng từ lâu đã được nhắc tới bởi cách điều tra điền dã độc đáo và dũng cảm của cô. Đây là một ví dụ điển hình về phương pháp nghiên cứu xhh.

Bên cạnh những phân tích lạnh lùng của kiến thức khoa học, Kim đã chia sẻ bằng trái tim của một cô gái tới nhiều số phận.

Trước khi gặp Kim, tôi đã được nghe tiến sĩ triết học Văn Phú Quang, dạy văn hóa Đông Nam Á và tiếng Việt của Trường Yale (Hoa Kỳ) nói về buổi thuyết trình rất ấn tượng của Kim trước cử tọa khoa học của trường về đề tài "Tính kinh tế của tình dục và chăn gối tại Việt Nam".
Ấn tượng không chỉ vì nội dung của công trình mà còn về phương pháp thâm nhập thực địa mà Kim đã áp dụng để thu thập dữ liệu. Giáo sư xã hội học của Trường đại học Berkeley, TS. Raka Ray đã đánh giá luận án của cô: Xuất sắc! Một nhà nghiên cứu can đảm, một cách điều tra điền dã ít người dám thực hiện. Anh Quang cũng đã tới nghe buổi thuyết trình của Kim, anh báo với tôi: Kim sẽ đến dự tối đọc thơ của tôi với sinh viên Trường Yale.


Tiến sĩ Kimberly kay Hoàng. Ảnh: Lao động

Kimberly kay Hoàng, bạn bè Việt thường gọi tắt là Kim, sinh năm 1983 ở bang Colorado. Trò chuyện với Kim tôi thấy cô nghe hiểu tiếng Việt rất tốt, nhưng nói thì chưa đúng âm Việt. Kim học Đại học ở California, Trường Santa Barbara, làm thạc sĩ ở Trường Stanfort và tiến sĩ ở Trường Berkeley. Hiện đang học sau tiến sĩ ở Trường Rice bang Texas. Và đã được nhận về dạy ở Boston College vào năm 2013.
Vào đại học, Kim chọn học khoa học xã hội, chuyên về giới tính, về nhập cư, về toàn cầu hóa. Năm 2005, vừa tốt nghiệp đại học, Kim về Việt Nam. Đó là lần đàu tiên cô về nước. Bố cô rời Việt Nam năm 19 tuổi, mẹ cô 13 tuổi. Còn cô, năm ấy hơn 21 tuổi. Cô về một mình và có ý định chọn Việt Nam làm môi trường nghiên cứu của mình. Cô nói: Sinh ra và lớn lên ở Mỹ, cô vẫn thường nghe người thân, bạn bè Việt nói chuyện về Việt Nam, cô ý thức được mối ràng buộc cội nguồn của mình. Nhưng quả thật mới chỉ là ý thức, chỉ khi đặt chân xuống sân bay Tân Sơn Nhất, nghe xung quanh tràn ngập tiếng Việt, rồi gặp họ hàng, giao tiếp xã hội, cô mới nhận ra trong lòng mình một tình cảm đặc biệt mà hồi ở Mỹ cô chưa nhận thấy.
Lần về ấy Kim lưu trú tại một khách sạn nhỏ, bốn tầng lầu. Có hai người đàn ông da trắng cũng ở đó. Những người này có hai cô bạn Việt. Kim có cảm giác ban đầu mọi người ở đó cũng nhìn mình như bạn gái các ông này. Nhưng khi tiếp xúc với cô, nghe cô nói tiếng Việt, họ biết ngay cô là Việt kiều. Còn với Kim, cái sự nhầm của thiên hạ lại gợi cô nghĩ tới một nghiên cứu dính dáng tới giới tính, tới hòa nhập toàn cầu, tới cả di dân. Ấy là cái đề tài về kỹ nghệ tình dục ở thành phố mà cô đặt cái tên chữ nghĩa hơi loằng ngoằng, đã nhắc phía trên.
Ban đầu, cô tìm cách tiếp xúc và phỏng vấn các cô bán dâm và cả khách làng chơi. Không hiệu quả: người ta không muốn gặp, có gặp cũng không nói, có nói cũng không thật. Mặc dù cô đã nhờ người quen giới thiệu và cô xin trả thù lao cho những cuộc trò chuyện. Tôi nghe cô kể lại nhớ đến thất bại mà nhà văn Vũ Trọng Phụng đã trải qua và chính ông thuật lại khi viết phóng sự Làm đĩ. Vũ Trọng Phụng khi ấy, ngoài 20 tuổi đã phải “dấn thân” làm khách làng chơi. Nhưng ông trả tiền chỉ để xin ngồi nghe chuyện. Lạ thay, trong không gian ấy, người lao động tình dục đã tin cậy ông mà kể lại nỗi mình.
Từ tháng 6/2009, Kim dùng một biện pháp khác để nhập được vào không gian lao động của các phụ nữ bản thân kia. Cô xin vào làm tiếp viên trong quán bar, cố nhiên những quán bar có “công nghệ” này. Cô có thuận lợi là nói tiếng Anh thông thạo, các bar ở TP. Hồ Chí Minh nhằm vào khách nước ngoài, rất cần người phiên dịch. Nhưng các chủ bar nghi ngại: không lẽ một cô Việt kiều nói năng giao thiệp sang trọng như cô mà lại về nước làm công thế này? Cô là người của công an thì việc làm ăn của người ta đổ bể. Cô phải trình bày thực mục đích nghiên cứu xã hội của mình, đảm bảo không gây trở ngại gì cho công việc làm ăn của họ. Cô tình nguyện không lấy lương. Những ông chủ hiểu biết chấp nhận để cô ngồi ở quầy tiếp tân, xếp khách, pha rượu...
Kim không nói, nhưng tôi đoán cô làm việc hiệu quả, mang lợi cho quán. Qua công việc, nhiều lần cô giúp đỡ, bênh vực những người phụ nữ lao động tình dục, cô thành người họ tin cậy, họ sẵn sàng cộng tác với cô. Kim đã thu được khá phong phú thông tin cho đề tài. Cô nhờ cậy những nguời đàn ông chở khách làng chơi đến quán bằng xe máy, bằng taxi, để quen thêm cả các khách làng chơi và được họ cho biết nhận xét của họ về cái lĩnh vực luôn luôn gây tò mò và đầy bí ẩn đổi với xã hội này.
Tôi hỏi, thế khách vào bar có nhầm Kim với các cô “lao động” kia không? Cháu thấy họ không nhầm, có lẽ do cách giao tiếp bằng tiếng Anh của cháu. Họ chỉ mời cháu uống rượu. Và cháu uống. Thế họ có biết Kim là người điều tra xã hội học? Có thể họ không biết. Họ nghĩ cháu là Việt kiều về đây kinh doanh. Ông chủ thì biết. Biết, vì cháu nói. Những cô làm “gái” cháu mời cộng tác, họ cũng biết nhưng việc ấy không thành dư luận gì. Nên việc thu thập dữ liệu của cháu tiến hành tự nhiên, không bị một sức ép nào làm méo.
Để dữ liệu được phong phú, cần trò chuyện được với nhiều loại người từ gái đứng đường cho đến các thứ gái gọi, gái bao và cũng với nhiều loại người mua, từ loại bình dân cho đến các thứ “Tây ba lô”, các Việt kiều, các đại gia... Kim đã phải xin vào làm tới 4 quán bar và qua những kênh quen thuộc, cô còn lui tới 7 tiệm cắt tóc (trá hình) và các quán cà phê có dịch vụ này. Ngoài ra, cô còn vận dụng nhiều cơ hội để thâm nhập những tụ điểm ngoài trời như các công viên trong Quận I. Sau 22 tháng, từ các năm 2006-2007 và các năm 2009-2010, trên cơ sở trò chuyện với 144 người bán và 116 người mua, tiến sĩ Kim nhận ra ba mức quan hệ tình dục lương ứng với ba mức đãi ngộ kinh tế.
Tiến sĩ xác định điều tra của cô không nhằm vào các nhà chứa, nơi người lao động tình dục làm thuê cho chủ, không trực tiếp ra giá với khách. Cô chỉ phỏng vấn những phụ nữ trực tiếp giao thiệp với khách, hoàn toàn chủ động (có thể nói là tự nguyện) trong quan hệ bán mua của họ. Chính vì vậy mới cho thấy mối quan hệ giữa đồng tiền trả và các kiểu tình dục bán.
Cố nhiên Kim đã kế thừa được rất nhiều kết luận trong nghiên cứu ở nhiều nước của những khoa học gia đi trước về các phương thức tình cảm biểu hiện trong thị trường thân xác này. Loại tình cảm nói trong công trình này được cô gọi là tình cảm thể hiện là thứ tình cảm được người bán “diễn” để chinh phục người mua nhằm đạt giá cao cho món hàng của mình - nó là thứ tình cảm đã biến thành hàng hóa. Tôi không có ý định tóm tắt nội dung công trình nghiên cứu của Kim.
Điều tôi muốn nói là trong cuộc thâm nhập này, bên cạnh những phân tích lạnh lùng của kiến thức khoa học, Kim đã chia sẻ bằng trái tim của một cô gái tới nhiều số phận. Điều đó thể hiện ở chỗ cô đã được những người lao động tình dục bộc lộ hết những lo tính, ước mong, cùng những nỗi niềm rủi may của họ.
Ẩn trong công trình khoa học của Kim có nhiều chuyện cảm động về thân phận con người. Công trình điều tra ấy như một tảng quặng xã hội hàm chứa nhiều tinh chất đặc trưng của thời cuộc, của nền kinh tế thị trường mới vực dậy, của bình đẳng giới, của xu thế hội nhập toàn cầu...
Kim đã rút ra những nhận định trong chuyên ngành của cô. Cô khái quát ba mức hạ - trung - cao của kỹ nghệ thân xác ở thành phố. Hạ cấp: 20 phút, nhiều khi không đối thoại. Họ vô cảm với nhau. Vô cảm của người bán là phải nén lại sự khinh ghét đối với khách mua.
Vô cảm của khách mua là thái độ của người nghèo mua công cụ. Loại trung, loại cao: khác nhau về giá cả và ứng xử nhưng có nét chung là nhu cầu tình dục được giấu đi sau những biểu hiện (giả vờ) của tình cảm. Họ tỏ ra quan tâm đến nhau và hình thành quan hê bạn tình, có khi tiến đến hôn nhân và ý định di dân.
Công xá không phải là thứ tiền trao cháo múc mà là quà tặng đắt tiền, có khi cả căn hộ và sự trợ giúp cho gia đình người bán. Khách hàng loại này là Tây ba lô, là Việt kiều, là các đại gia trong nước. Người bán là các cô biết giao tiếp tiếng Anh, có nhan sắc, thạo ứng xử, ăn mặc sang trọng và thể hiện như người có tài sàn.
Nhưng ngoài những khai thác xã hội học đó, chuyên luận của Kim còn gợi ý tưởng cho những chính sách và biện pháp quản lý xã hội, gợi cảm hứng cho văn chương nghệ thuật. Cách “đi thực tế" của nhà khoa học trẻ này cũng khích lệ một xu hướng tiếp cận đời sống đích thực cho giới nhà văn, nhà báo.
(Theo Vũ Quần Phương/ Báo Xuân Sức Khỏe & Đời Sống)
Nguồn đăng lại: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/108156/tien-si-viet-kieu-va-chuyen-luan-ve-mai-dam.html

No comments:

Post a Comment