Saturday, February 16, 2013

Nhân phẩm, một cách tiếp cận văn hóa từ lịch sử

 

LTS: Trong thế giới mở, phức tạp, với nhiều nền văn hóa khác nhau như ngày nay, liệu còn có điều gì thực sự mang tính phổ quát? Đó là câu hỏi có muôn vàn đáp số tùy thuộc vào vị trí, tầm nhìn, cách tiếp cận của mỗi người, mỗi ngành khoa học. VHNA đi tìm một câu trả lời từ nhà triết học Bùi Văn Nam Sơn. Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Phan Văn Thắng (PVT): Bài “Chân thắng và chân ga” của ông (VHNAonline, 10.09.2012) viết mừng sinh nhật lần thứ 80 nhà văn Nguyên Ngọc rất được người đọc chú ý vì có nhiều nhận thức mới mẻ về mối quan hệ giữa văn hóa và kinh tế. Một cách ngắn gọn, ông có thể tóm tắt luận điểm của mình?
 Bùi Văn Nam Sơn (BVNS): “Văn hóa là chân thắng, kinh tế là chân ga” là cách ví von rất hay của nhà văn Nguyên Ngọc về mối quan hệ luôn căng bức giữa việc bảo vệ, phát huy các giá trị văn hóa, tinh thần với quy luật “tối đa hóa” theo quán tính của hoạt động kinh tế. Bài viết của tôi không có tham vọng giải quyết vấn đề lớn lao này. Trái lại, chỉ điểm lại một số cuộc thảo luận hiện nay ở các nước phát triển như một gợi ý để tiếp tục suy nghĩ. Trong xã hội tiền-hiện đại, hoạt động kinh tế còn phục tùng bảng giá trị văn hóa cổ truyền. Trong xã hội hiện đại, kinh tế ngày càng phân ly với văn hóa và trở lại khống chế văn hóa. Xã hội hậu-hiện đại cho thấy những dấu hiệu đầu tiên của một sự tái hòa nhập, hay, nói một cách hình tượng: “chân thắng” sẽ được gài sẵn vào “chân ga”! Điều này có cơ may trở thành hiện thực do sự thay đổi của bản thân cấu trúc kinh tế của “chủ nghĩa tư bản mới” mang tính mềm dẻo, linh hoạt, kéo theo nhận thức mới mẻ về hiểm họa sinh thái, về “lao động” và “không lao động” với mô hình mới về sự phồn vinh: không còn tập trung ở việc chiếm hữu nhiều tiền mà ở việc có thêm nhiều thời gian để có thể chủ động trong nội dung công việc cũng như hưởng thụ và sáng tạo văn hóa. Những tiền đề ấy có trở thành hiện thực hay không còn phải chờ thời gian trả lời.


PVT: Trong bài nói trên, tôi chú ý tới một nhận xét của ông về một sự đảo lộn quan trọng về ý nghĩa bên trong khái niệm văn hóa, tức quan hệ giữa văn hóa và văn minh. Nếu trước đây văn minh được hiểu như giá trị vật chất, và văn hóa mang giá trị tinh thần thì bây giờ “văn minh đại diện cho các giá trị hiện đại như tính phổ quát, sự tự trị, tính chủ thể, sự tự phê phán và cả sự tự trào”, còn khái niệm “văn hóa” lại mang tính bảo thủ, tiền-hiện đại, thậm chí “ẩn chứa nguy cơ: văn hóa trở thành bạo động”. Ông có thể giải thích thêm? Và, xin hỏi: trong thế giới mở, phức tạp, với nhiều nền văn hóa khác nhau như ngày nay, liệu còn có điều gì thực sự mang tính phổ quát?
 BVNS: Văn hóa, nếu được hiểu theo nghĩa toàn thủ (integrism), ắt không tránh khỏi mang tính bạo động, phản lại bản tính khai phóng của văn hóa đích thực. Văn hóa đích thực thì luôn hướng đến cái phổ quát, nhưng ngày nay quả thật rất khó khăn trong việc đồng thuận về một bảng giá trị toàn cầu. Những niềm tin tôn giáo, những xác tín chính trị dù mạnh mẽ đến mấy, cũng khó có thể có giá trị cho mọi người và mọi nơi. Điều duy nhất còn giữ được “đặc quyền” ấy họa chăng chỉ là giá trị phổ quát của nhân phẩmnhân quyền, vì ít ra hầu như không một quốc gia nào dám ngang nhiên bác bỏ trước công luận quốc tế nếu không muốn bị lên án, thậm chí, bị trừng phạt. Ngày nay, không một văn kiện đạo lý và pháp lý nào được thừa nhận rộng rãi hơn bản Tuyên Ngôn phổ quát về nhân quyền của Liên hiệp quốc năm 1948. Ở đây, không còn đặt vấn đề đồng ý hoặc bác bỏ mà chỉ khác nhau ở chỗ lý giải “đúng đắn” về Tuyên ngôn phổ quát này.
Vì thế, bản thân việc định hình nhân phẩm và nhân quyền như là giá trị phổ quát, và nhất là quá trình “lý giải” nó là một trang lịch sử văn hóa và chính trị đầy “âm thanh và cuồng nộ”. Xin đề nghị dành cuộc trao đổi hôm nay cho việc thử ôn lại vài nét lớn trong lịch sử bi tráng ấy.
PVT: Vâng, vậy trước hết hãy thử lược qua lịch sử văn hóa của khái niệm nhân phẩm. “Nhân phẩm” thường được hiểu như thế nào qua lịch sử?
BVNS: Tôi xin giới hạn trong phạm vi lịch sử tư tưởng Tây phương, bởi nhân phẩm và nhân quyền, theo cách hiểu hiện đại, mặc nhiên được tôn vinh lẫn bị đả kích như là thành tựu và sản phẩm của Châu Âu và nay được phổ quát hóa trên phạm vi toàn cầu. Nhìn chung, “nhân phẩm” được hiểu theo hai cách: thứ nhất, như là đặc tính bẩm sinh của con người, gọi là đặc tính bản chất. Theo đó, mỗi cá nhân, độc lập với hành vi và hoàn cảnh xã hội, có một nhân phẩm bẩm sinh, không khác gì có đầu, mình và tứ chi! Cách thứ hai, nhân phẩm là sứ mệnh do mình tự kiến tạo, theo đó, có được nhân phẩm hay không là tùy thuộc vào lối sống và cách ứng xử của mỗi người. Theo cách hiểu này, nhân phẩm được xem là thành tích cá nhân hay là thành tựu xã hội.
Trong lịch sử tư tưởng, hai cách hiểu này thường đi liền với nhau. Thông qua tư duy và hành động thực hiện sứ mệnh tự kiến tạo, con người mới chứng tỏ nhân phẩm của mình. Tuy nhiên, cách hiểu thứ hai thường chiếm ưu thế, trong khi cách hiểu thứ nhất không tránh khỏi tranh cãi. Nhân phẩm có thực sự là đặc tính bẩm sinh và quy định bản chất của con người?
 PVT: Chẳng hạn, người Hy Lạp và La Mã cổ đại không nghĩ như thế?
 BVNS: Vâng, đúng thế, họ xa lạ với tư tưởng cho rằng hễ ai mang bộ mặt người thì đều có nhân phẩm bẩm sinh! Nhân phẩm hay phẩm giá con người – dignitas et excellentia – không được xem là đặc tính bẩm sinh mà là kết quả của cống hiến cá nhân và sự thừa nhận của xã hội. Về mặt cá nhân, chính cách hành xử đúng mực - tức phù hợp với lý trí và chế ngự được bản năng, dục vọng - và thái độ “bất động tâm” trước phúc và họa (theo tinh thần phái Khắc kỷ) mới mang lại phẩm giá. Thêm vào đó là cung cách bề ngoài (đi đứng, ăn mặc, nói năng…) nữa: không nói quá to, không đi quá nhanh, lúc nào cũng phải trang  nghiêm, điềm tĩnh… Thêm nữa, không chỉ sự tự chủ nội tâm và sự thể hiện bề ngoài là quan trọng mà trước hết là sự đánh giá của xã hội. Chính cương vị xã hội, nguồn gốc xuất thân góp phần quyết định nhân phẩm.
 PVT: Sự chuyển biến bắt đầu từ khi nào?
 BVNS: Theo lịch sử thì người đầu tiên khẳng định nhân phẩm phổ quát chính là Marcus Tullius Cicero, triết gia và nhà chính trị La Mã (106-43 tr. CN). Trong tác phẩm “Về hành động hợp nghĩa vụ”, lần đầu tiên nhân phẩm được hiểu đồng thời theo cả hai nghĩa. Cicero nhìn nhận ai ai cũng có nhân phẩm, và, dựa vào bản tính có lý trí, họ định hướng cuộc đời mình. Tuy nhiên, quan niệm này không được thừa nhận rộng rãi cho đến khi xuất hiện Kitô giáo.
 PVT: Kitô giáo đặt cơ sở thần học và siêu hình học cho khái niệm nhân phẩm như thế nào?
 BVNS: Nói vắn tắt, phẩm giá của con người đặt cơ sở trên việc con người được mang hình ảnh của Thiên Chúa, và, qua đó, tham dự vào lý tính và quyền năng của Thiên Chúa. Là con đẻ và mang hình cảnh của Thiên Chúa, con người có giá trị tuyệt đối, vượt hơn hẳn mọi tạo vật, thậm chí, được đặt ở vị trí trung tâm của vũ trụ. Mặt khác, phẩm giá cao cả của con người thể hiện ở dáng đứng thẳng, có ý chí tự do, có linh hồn bất tử, nhất là có lý trí để có thể nhận thức được chính mình, nhận thức thế giới và Thiên Chúa.
Đặc biệt, phẩm giá cao cả còn thể hiện ở việc Thiên Chúa trở thành người, mang xác thịt để cứu chuộc con người bằng cái chết và sự sống lại. Tuy nhiên, nhân phẩm - đặc tính bản chất lẫn sứ mệnh kiến tạo - chỉ được chứng tỏ khi xứng đáng với phẩm giá bẩm sinh ấy, biết kính sợ Thiên Chúa, sống đời đức hạnh, không để cho dục vọng và đam mê lôi cuốn và thống trị.
 PVT: Quan niệm ấy ảnh hưởng đến thời Cận đại như thế nào?
 BVNS: Quan niệm trên ảnh hưởng suốt thời Trung đại Âu Châu, nhưng bắt đầu có sự chuyển biến sâu sắc từ thế kỷ 17. Nhân phẩm không còn gắn liền với việc con người mang hình ảnh của Thiên Chúa và ở vị trí trung tâm của vũ trụ. Chẳng hạn vào thế kỷ 18, Immanuel Kant chỉ đặt cơ sở cho nhân phẩm từ tự-ý thức, tự do, luân lý và lý tính. Có thể nói, quan niệm về nhân phẩm đã chuyển từ siêu hình học và thần học sang đạo đức học và triết học pháp quyền. Một mặt, Kant cho rằng con người là bộ phận của tự nhiên, nhưng có nhân phẩm vượt lên trên giới tự nhiên. Mọi vật đều có một “giá cả”, tức mang giá trị bên ngoài, có thể mua bán được. Chỉ riêng con người có giá trị tự thân, vì thế có thể tự trọng và tôn trọng phẩm giá của người khác, đồng thời có nghĩa vụ với chính mình, nghĩa là không thể làm nô lệ cho người khác: ai tự biến mình thành dòi bọ, đừng trách người khác giày xéo mình!
Theo Kant, con người làm chủ bản thân, nhưng không có nghĩa là sở hữu bản thân và sở hữu người khác. Có năng lực lý tính và ý chí tự do, con người không phải là phương tiện hay sự vật, do đó, không chỉ đối với người khác, mà với bản thân cũng không có quyền tự hành hạ, bán mình, kể cả tự sát. Đây là cách nhìn có nguồn gốc thần học: xúc phạm con người cũng có nghĩa là xúc phạm Thiên Chúa! Quan niệm về nhân phẩm thời Cận đại chia sẻ nhiều giá trị Kitô giáo, nhưng bắt đầu mang tính thế tục và chỉ còn dựa vào lý tính và ý chí luân lý. Nhân phẩm - như là tổng thể của tự do đạo đức gồm đặc tính bản chất và sứ mệnh tự kiến tạo - trở thành cơ sở chính đáng cho việc đỏi hỏi và thực hiện nhân quyền trên lĩnh vực pháp lý và chính trị-xã hội.
 PVT: Quyền tự nhiên và nhân quyền quan hệ với nhau ra sao?
 BVNS: Do quan niệm truyền thống về nhân phẩm như là đặc tính bản chất bẩm sinh của con người, con người có những quyền tự nhiên, bất kể hệ thống pháp luật của nhà nước có đảm bảo hay không. Nhà nước không tạo ra những quyền này, trái lại chúng là những gì có sẵn, phải được thể hiện trong Hiến pháp và là thước đo để đánh giá tính chính đáng của pháp luật. Nhân quyền không chỉ là “tiền-nhà nước” mà còn là “siêu-thực định”, tức vượt lên trên mọi quy định pháp lý do con người đặt ra. Vì thế, nhân quyền còn được gọi là những quyền cơ bản. Ngay từ thời cổ đại, Aristoteles đã phân biệt giữa quyền tự nhiên và pháp luật thực định (do con người tạo ra): “Quyền tự nhiên có quyền uy ở mọi nơi và không lệ thuộc vào ý kiến của con người, trong khi đó, luật pháp là do con người xác lập” (Đạo đức học Nicomachus, 1134b). Cicero, trước đó, cũng khẳng định: “Luật pháp đích thực là lý tính đúng đắn phù hợp với tự nhiên, là luật vĩnh hằng và bất biến cho mọi nước và mọi thời. (Về nhà nước, 3.3). Xa hơn nữa là Antiphon, biện sĩ cổ Hy Lạp: “Mọi người đều bình đẳng do bản tính, bất kể là người Hy Lạp hay người dã man, vì tất cả chúng ta đều hít thở bằng mũi và miệng và ăn bằng tay”!
Do đó, bình đẳng và tự do là nhân quyền và quyền tự nhiên cơ bản. John Locke (1632-1704) bàn về “sự tự do tự nhiên của con người”, cũng như J. J. Rousseau (1712-1778): “Xâm phạm tự do cũng là xâm phạm bản thân phẩm chất người”. Kant cũng khẳng định “quyền tự do bẩm sinh” chính là “quyền tự nhiên”, thậm chí là quyền tự nhiên tối thượng, từ dó dẫn xuất mọi nhân quyền khác, kể cả sự bình đẳng.
PVT: Theo quan niệm hiện đại, nhân quyền gồm những quyền nào?
BVNS: Nhân quyền hiện đại được hiểu như những quyền thế tục, lý tính, thường được chia làm năm loại:
1. quyền tổ chức đời sống xã hội: tức quyền sống trong một nhà nước pháp quyền có Hiến pháp dân chủ.
2. quyền tự vệ để bảo đảm an toàn cá nhân: tức quyền tự quyết, quyền mưu cầu hạnh phúc, bình đẳng trước pháp luật, quyền tự do tín ngưỡng và thế giới quan, giới hạn quyền lực cưỡng chế của nhà nước.
3. quyền tham dự về chính trị, hay còn gọi là dân quyền. Đó là các quyền tự do ngôn luận, báo chí và lập hội cùng quyền bầu cử phổ thông. Chúng áp dụng cho công dân của một xứ sở nên còn gọi là dân quyền quốc gia.
4. quyền an sinh và phúc lợi xã hội: bảo đảm an toàn trước những nguy cơ cho sự sinh tồn cá nhân như bệnh tật, tai nạn, thất nghiệp, cũng như bảo vệ những người yếu thế trong xã hội.
5. quyền liên đới và tập thể: như quyền được hưởng những thành tựu của sự phát triển kinh tế - nhất là ở các nước chậm phát triển - và môi trường sống trong lành, an toàn.
 PVT: Bên cạnh lịch sử văn hóa, lịch sử chính trị của nhân phẩm và nhân quyền hẳn còn phức tạp hơn nhiều?
 BVNS: Thưa, đúng vậy, vào tháng 6.1776, bang Virginia - thuộc địa Anh - lần đầu tiên ban bố một hiến pháp với danh mục các nhân quyền. Chỉ ba tuần sau, 13 bang Bắc Mỹ tuyên bố độc lập với thực dân Anh. Vài năm sau, 1789, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp được trịnh trọng ban hành. Cả ba đều dựa vào quyền tự nhiên của sự tự do và bình đẳng.
Nhưng, chúng không phải từ trên trời rơi xuống! Không xét đến nguồn gốc triết học, từ rất lâu, ở nước Anh đã có những đạo luật bảo vệ cá nhân trước quyền lực của nhà nước. Chẳng hạn Magna Charta Libertatum năm 1215 ngăn ngừa việc bắt bớ, tù đày tùy tiện đối với giới quý tộc. Sau đó, Petition of Rights năm 1628 và Bill of Rights năm 1689 bảo đảm sự an toàn về pháp lý. Tuy nhiên, chúng vẫn chưa phải là quy định nhân quyền đúng nghĩa cho mọi người. Phải chờ đến thế kỷ 18 với hai Tuyên Ngôn của Cách mạng Mỹ và Pháp. Hai Tuyên ngôn lừng danh này thật ra cũng chỉ mới khẳng định sự giải phóng về chính trị (chống lại chế độ thực dân Anh và chế độ quân chủ chuyên chế Pháp) chứ vẫn chưa phải là yêu sách của con người cá nhân như ngày nay. Trong các Tuyên ngôn và Hiến pháp ở thế kỷ 18 và 19 ở Châu Âu, nhân phẩm chưa đóng vai trò then chốt, dù ai cũng tưởng rằng nhân phẩm vốn là cơ sở của nhân quyền! Điều này chỉ có được ở thế kỷ 20 khi những luận cứ bảo vệ cho pháp quyền tự nhiên bị lung lay và nhân phẩm thực sự tiến lên thế chỗ cho nó.
Lý do của việc nhân phẩm được nâng lên thành giá trị pháp lý tối cao ở thế kỷ 20 thực ra không phải chỉ do sự khủng hoảng của khái niệm “pháp quyền tự nhiên” cho bằng kinh nghiệm xương máu của hai cuộc thế chiến thảm khốc và các chế độ cực quyền nửa đầu thế kỷ 20. Nhấn mạnh đến nhân phẩm là để khẳng định rằng: bất kể hoàn cảnh nào, sinh mệnh và nhân phẩm của từng cá nhân phải được đặc biệt tôn trọng. Đó chính là bối cảnh ra đời hàng loạt các Tuyên bố và Công ước nổi tiếng từ nửa sau thế kỷ 20: Hiến Chương Liên hiệp quốc (1945), Tuyên bố phổ quát về nhân quyền (1948); Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966); Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (1966); Hiến Chương những quyền cơ bản của Cộng đồng chung Châu Âu (2000) v.v…
PVT: Nhưng trong lịch sử vẫn có những tiếng nói phê phán nhân quyền?
BVNS: Vâng, đây là một trang lịch sử phức tạp và dai dẳng, nhưng ta cần một cái nhìn có phân biệt. Ngay từ thế kỷ 19 đã nổi lên nhiều tiếng nói phản bác, thường được chia thành hai nhóm: bảo thủ và cấp tiến. Thuộc nhóm bảo thủ nổi bật là thuyết Darwin xã hội và thuyết vị chủng với Alexander Tille (1866-1912), August Forel (1848-1931) hay Alfred Grotjahn (1869-1931). Họ bác bỏ lý tưởng về tự do và bình đẳng, về quyền sống và sự tự quyết nhân danh nguyên tắc chọn lọc tự nhiên! Thật ra quan niệm này đã có từ thời cổ đại với nhà biện sĩ Gorgias khi cho rằng kẻ mạnh là tốt, kẻ yếu là xấu xa! Thế nhưng, quan niệm này đã bị chính nhà nghiên cứu tự nhiên Thomas Henry Huxley (1825-1895) bác bỏ: sự tiến bộ đạo đức của xã hội không phải là mô phỏng giới tự nhiên mà cải biến và, nếu cần, đi ngược lại tự nhiên!
Không liên quan đến thuyết Darwin xã hội, cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, hai giáo hội lớn của Kitô giáo (Công giáo và Tin lành) cũng có phần nghi ngại đối với các quyền tự do và quyền chính trị. Mặc dù ý niệm về nhân phẩm bắt nguồn từ Kitô giáo cũng như từ truyền thống nhân bản Tây phương, sự e ngại của giáo hội chủ yếu xuất phát từ việc bảo vệ lợi ích và quyền uy trước sự đe dọa của việc phê phán định chế khởi phát từ thời Cách mạng Pháp. Nhưng, đến năm 1963, Giáo hoàng Johannes XXIII đã chính thức thừa nhận những nhân quyền cơ bản, và đến năm 1965 ban hành tuyên bố “Nhân phẩm con người” (Dignitatis humanae) nhân Công đồng Vatican II. Ngày nay, các giáo hội Kitô giáo không chỉ thừa nhận mà còn dấn thân mạnh mẽ trong lĩnh vực này.
Phái cấp tiến nổi bật là nhận định phê phán của K. Marx (1818-1883) trong “Về vấn đề Do Thái” (1844) chung quanh khả năng lừa mị của khái niệm “nhân quyền” mà thực chất là bảo vệ lợi ích của “con người tư sản” (Bourgeois), ảnh hưởng đến sự bình đẳng xã hội. Ngày nay, ta đều thấy nhân quyền không chỉ bảo vệ sự tự do của cá nhân và công dân trước nguy cơ lạm dụng quyền lực nhà nước mà cả trước các hình thức áp bức về kinh tế-xã hội.
Ferdinand de Lassalle, chủ tịch đầu tiên của Công đoàn Đức quốc, ngay từ 1863 đã đề xướng việc kết hợp giữa nhân phẩm và nhà nước phúc lợi, và ý tưởng ấy đã được ghi nhận vào điều 151 của Hiến pháp Weimar của nước Đức vào năm 1919. Nhưng, con đường khá gian nan. Năm 1951, Tòa Án Hiến Pháp CHLB Đức còn bác bỏ trách nhiệm bảo hộ công dân trước sự túng quẫn về vật chất, và chỉ chấp nhận việc trợ cấp xã hội từ năm 1966, song hành với sự ra đời Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Câu nói nổi tiếng của Hegel: “Lịch sử thế giới là sự tiến bộ trong ý thức về tự do” hoàn toàn thích hợp đối với nhân phẩm và nhân quyền!
 PVT: Nhân phẩm và nhân quyền là phổ quát?
 BVNS: Có mấy lý lẽ cơ bản để bảo vệ luận điểm này:
Thứ nhất, việc giới hạn hay thậm chí xóa bỏ các nhân quyền cơ bản không giúp ích gì mà còn làm hại cho việc khắc phục nghèo đói và thất học. Đó là lý do ra đời hai Công ước quốc tế quan trọng nói trên. Ba loại nhân quyền (quyền cá nhân, quyền chính trị và quyền xã hội) đều là công cụ để hình thành một cuộc sống đầy đủ phẩm giá, và vì thế, có vị trí ngang hàng với nhau.
Thứ hai, quyền cá nhân và quyền tập thể không mâu thuẫn với nhau. Nhiều quyền tự do cá nhân - như tự do ngôn luận, hội họp và lập hội - tự chúng là có tính tập thể. Và sau cùng, nguồn gốc Tây phương về nhân phẩm và nhân quyền không phải là lý do để bác bỏ tính phổ quát của nó. Do phong trào Khai minh Âu Châu đánh thức và phát triển, nhân phẩm và nhân quyền là một trong những thành tựu văn hóa vĩ đại nhất của nhân loại, và thật thiệt thòi cho nhân loại nếu chỉ dành riêng cho khu vực ấy! Tuy nhiên, phải thú nhận rằng, việc khẳng định tính phổ quát tiền giả định rằng những luận cứ đặt cơ sở cho nó cũng phải có giá trị phổ quát. Ở đây, có thể còn nhiều vấn đề phải tranh luận, nhưng chúng không mang tính chính trị cho bằng mang tính thuần túy triết học. Xin dành lại cho những cuộc trao đổi khác trong tương lai.
 PVT: Xin cảm ơn ông về cuộc nói chuyện lý thú này.

Nguon:http://www.vanhoanghean.com.vn/nhung-goc-nhin-van-hoa/goc-nhin-van-hoa/5615-nhan-pham-mot-cach-tiep-can-van-hoa-tu-lich-su.html 

No comments:

Post a Comment