Wednesday, January 2, 2013

Cải cách, hiện đại hóa giáo dục (tiếp theo)

       
Viện Nghiên cứu Phát triển IDS

4. Chấn hưng, cải cách giáo dục là mệnh lệnh cuộc sống

Trước tình hình khủng hoảng của giáo dục, bản điều trần 2004 đã kiến nghị xây dựng lại
giáo dục từ gốc, trên cơ sở một triêt lý giáo dục mới, phù hợp với xu thế chung của thời
đại và yêu cầu phát triển của đất nước. Nội dung cơ bản của triết lý này đã được trình bày
rõ trong bản điều trần (toàn bộ phần II của bản điều trần), xin không nhắc lại ở đây.
Vài năm nay, nhận thấy giáo dục vẫn tiếp tục sa lầy trong suy thoái, nhiều nhà giáo, nhà
khoa học, nhiều thức giả trong và ngoài nước cũng đã góp thêm tiếng nói tâm huyết kêu
gọi cải cách giáo dục. Đặc biệt Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đã bày tỏ lo lắng sâu sắc
trước sự suy thoái của giáo dục. Chưa bao giờ xã hội Việt Nam có sự đồng thuận cao
như hiện nay về sự cần thiết phải cải cách giáo dục.

Thật ra không phải chỉ gần đây khủng hoảng giáo dục mới được báo động, mà ngay từ
năm 1995, trong một hội nghị ba ngày do Thủ Tướng Võ Văn Kiệt hồi ấy triệu tập và chủ
trì đã có ý kiến thẳng thắn nêu lên thực trạng nguy kịch của giáo dục và lên tiếng kêu cứu
cho ngành này. Nghị quyết TƯ II khóa 8 đã đúc kết những nhận định và kiến nghị tâm
huyết đề xuất trong hội nghị đó và trong một số hội thảo tiếp theo. Tiếc rằng từ bấy đến
nay đã 13 năm giáo dục vẫn ì ạch, chưa có dấu hiệu bứt ra được khỏi thế trì trệ triền
miên. Trong thời gian ấy biết bao cơ hội đã mở ra, và cũng có biết bao thách thức xuất
hiện ở phía trước! Nếu tới đây sức ỳ này vẫn tiếp tục chi phối giáo dục thì mục tiêu Việt
Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 rất ít hy
vọng có thể thực hiện được.

Tuesday, January 1, 2013

Cải cách, hiện đại hóa giáo dục (tiếp)

Viện Nghiên cứu Phát triển IDS


3. Các nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng của giáo dục

Tại sao một dân tộc vốn có truyền thống hiếu học lâu đời mà giáo dục lại rơi vào suy
thoái trầm trọng vào đúng lúc nó phải là bệ phóng cho sự phát triển của đất nước?
Hoàn toàn không phải do nghèo, vì công sức, tiền của lãng phí, thất thoát ngay trong
ngành giáo dục rất lớn. Nguyên nhân khủng hoảng phải trung thực nhìn nhận chủ yếu là
do lãnh đạo bất cập, trước hết là lãnh đạo của TƯ.
2) Theo trình bày của Bộ GD-ĐT (http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/2008/12/818314/), đến 2020 mỗi đại
học ấy sẽ có 50% giảng viên trở lên có bằng tiến sĩ, mỗi cán bộ có ít nhất 2 công bố trên tạp chí quốc tế uy
tín, ... . Nêu chỉ vậy chưa thể coi là “đẳng cấp quốc tế”, càng không thể thuộc top 200 trên thế giới, mà mới
chỉ là loại kém đối với một nước, chưa nói đến quốc tế. Chúng ta đã phạm sai lầm lớn hạ thấp chuẩn mực
để có hàng vạn tiến sĩ, hàng nghìn PGS, GS, với hậu quả như thế nào mọi người đã biết. Giờ đây lại hạ thấp
chuẩn mực để chóng có nhiều đại học đẳng cấp quốc tế và đại học lọt vào top 200 trên thế giới ?

Kiến nghị Cải cách, hiện đại hóa giáo dục

Viện Nghiên cứu Phát triển IDS

Sau hai thập kỷ tăng trưởng kinh tế ấn tượng dựa chủ yếu vào vốn đầu tư, lao động giá rẻ
và tài nguyên thiên nhiên, đã đến lúc muốn tiếp tục đi lên một cách bền vững đất nước
cần mau chóng chuyển sang hình thái phát triển mới, dựa chủ yếu vào trí tuệ và tài năng.
Do đó chưa bao giờ chấn hưng giáo dục trở thành nhiệm vụ bức thiết như lúc này. Mười
ba năm trước TƯ đã có nghị quyết xác định phát triển giáo dục, đào tạo và khoa học,
công nghệ là quốc sách hàng đầu. Nghị quyết rất đúng đắn, tiếc rằng việc triển khai thực
hiện bất cập nên sau gần mười năm, Thủ Tướng Phan Văn Khải đã phải thừa nhận chúng
ta không thành công trong giáo dục và khoa học.

 
Với ý thức trách nhiệm công dân, năm 2004 một nhóm 24 nhà giáo dục, khoa học và văn
hóa đã gửi lên TƯ một bản điều trần kêu gọi cải cách, hiện đại hóa giáo dục. Bản điều
trần này đã được nhiều tầng lớp xã hội hưởng ứng rộng rãi. Từ đó đến nay, tuy tình hình
đã có nhiều thay đổi lớn, song những vấn đề được đề cập trong bản điều trần về cơ bản
vẫn còn nóng hổi tính thời sự và vẫn tiếp tục là mối quan tâm hàng đầu của bất cứ ai lo
lắng đến tương lai con em và tiền đồ dân tộc. Vì vậy, chúng tôi khẩn thiết kiến nghị TƯ
một lần nữa xem xét nghiêm túc các vấn đề nêu trong bản điều trần để kịp thời lựa chọn
quyết sách chấn hưng giáo dục.


Monday, December 31, 2012

Lỗi của giáo dục đến từ những mâu thuẫn bên ngoài

       
Nguyễn Khánh Trung

Không nên đổ hết lỗi của giáo dục cho các thầy cô giáo, cho ngành giáo duc. Đừng nên tách biệt giáo dục khi phân tích những vấn đề của nó, nhưng hãy đặt nó trong tổng thể kinh tế chính trị xã hội chung để có cái nhìn chính xác hơn. 

Tôi nghĩ, những vấn đề giáo dục hiện nay là một dạng “lỗi hệ thống”, lỗi tư duy đến từ bên ngoài định chế giáo dục. Giáo dục chỉ là nơi phản ánh, nói theo ngôn ngữ của nhà giáo dục học người Pháp E. Durkheim, là nơi báo hiệu những vấn đề đang xảy ra ngoài xã hội.

Theo tôi, lỗi căn bản của giáo dục hiện nay là thiếu giải đáp thoả đáng cho câu hỏi: chúng ta đang muốn đào tạo mẫu người thế nào ? mẫu người lý tưởng mà nhà trường nhắm tới phải có những chuẩn gì, về tri thức, kỹ năng, vế đạo đức… ? 

Nền giáo dục Nho giáo ngày xưa đã có mục tiêu là đào tạo con người theo mô hình lý tưởng “người quân tử” với các tiêu chuẩn được định nghĩa một cách rõ ràng và được mọi thành phần từ vua quan đến thứ dân công nhận; Nền giáo dục nước ta trước đổi mới có mục tiêu nhắm tới là đào tạo “con người mới xhcn” với các chuẩn về “hồng và chuyên” được định nghĩa một cách nhất quán, phù hợp với mô hình xã hội kinh tế tập trung. Còn nền giáo dục chúng ta hiện nay trong “xã hội kinh tế thị trường định hướng xhcn” thì sao ? 

Saturday, December 29, 2012

Nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự


GS. Tương Lai
Khát vọng về dân chủ và công bằng vốn nung nấu từ lâu trong lịch sử loài người. Có dân chủ mới thực hiện được công bằng, đồng thời công bằng là thước đo của dân chủ và tiến bộ xã hội. Điểm quy chiếu để kiểm nhận về công bằng và dân chủ mà một xã hội đạt được thường tìm thấy dễ dàng trong pháp luật. Cũng qua sự hiểu biết của người dân về pháp luật và việc thực hiện pháp luật, người ta có thể kiểm định về trình độ văn minh của một xã hội. Khi chúng ta đang phấn đấu cho một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh thì cần phải tường minh về những vấn đề đó. 

Nói đó là khát vọng đã nung nấu từ lâu vì những hưng vong, thành bại của mọi triều đại, mọi thể chế trải qua mọi cuộc "tranh bá, đồ vương" đều có thể tìm dấu ấn của tư duy loài người xoay quanh chuyện này. Xin được dẫn dắt bài báo Tết này bằng chuyện bên Tàu.

Quản Trọng, người đã làm cho nước Tề thành "bá" từ sáu thế kỷ trước công nguyên đã từng khẳng định: "Pháp [luật] là cái quy tắc của thiên hạ… Quan sai khiến dân mà có pháp [luật] thì dân theo, không có pháp [luật] thì dân dừng lại. Dân lấy pháp [luật] chống nhau với quan. Người dưới lấy pháp [luật] phục vụ người trên, cho nên bọn dối trá không thể lừa chủ, bọn ghen ghét không thể có cái bụng kẻ giặc, bọn xu nịnh không thể khoe cái khéo, ngoài ngàn dặm không dám làm điều trái" (Quản Tử. Quyển 21). Chính vì lẽ đó mà phái pháp gia bị phái nho gia vốn chủ trương "đức tri" "nhân tri"chống lại kịch liệt. Khổng Tử nói: "sở dĩ dân có thể tôn quý người sang, người sang nhờ thế giữ gìn được cơ nghiệp mình. Người sang người hèn không lẫn lộn, cái đó gọi là pháp độ… Nay bỏ pháp độ này mà làm cái vạc ghi pháp luật, thì dân chỉ biết cái vạc lấy gì để tôn quý (người sang) ? Người sang còn có cơ nghiệp nào để giữ Người sang kẻ hèn không có trên dưới, lấy gì để làm thành nước?" (Tả truyện. Quyển 26).

Friday, December 28, 2012

Pierre Bourdieu và xã hội học giáo dục

Nguyễn Khánh Trung
(Bài đăng trên Tạp chí Xã hội học, số 6 - 2009)



Tóm tắt: Pierre Bourdieu (1930 – 2002) là một nhà triết học, một nhà xã hội học, một trí thức lớn của Pháp trong thời hiện đại. Tư tưởng của ông ảnh hưởng rất đậm trong giới khoa học xã hội và nhân văn nói chung và xã hội học nói riêng tại Pháp từ sau Ðệ nhị thế chiến. Ông là nhà phê bình xã hội một cách khoa học và sắc bén, bóc trần thực tại xã hội, công kích giai cấp nắm quyền với những kỹ thuật nhằm củng cố trật tự xã hội, duy trì sự thống trị của họ. Tư tưởng của ông đối lập với những ai muốn đống phục và bao cấp tư tưởng người khác.


Bourdieu đã đề cập đến những vấn đề nan giải trong xã hội học như Xã hội học là gì ? Xã hội là gì ? Trật tự xã hội được duy trì và tái tạo thế nào ? Nó thay đổi ra sao ? Vị trí của cá nhân trong xã hội thế nào ? Ông đã đi tìm trả lời cho những câu hỏi trên thông qua nhiều lĩnh vực từ hội hoạ văn chương đến văn hoá, tôn giáo, giới tính và giáo dục…

Chúng tôi cố gắng giới thiệu các tư tưởng về giáo dục vì nhận thấy tư tưởng của ông có thể giúp chúng ta suy nghĩ về bản chất của nền giáo dục Việt Nam, cũng như cội rễ những vấn đề mà chúng ta đang gặp phải. Cố gắng này cũng mong góp phần nhỏ vào sự phát triển của chuyên ngành xã hội học giáo dục vốn đang rất khiêm tốn ở nước ta hiện nay.

Thursday, December 27, 2012

PIERRE BOURDIEU VÀ XÃ HỘI HỌC TÔN GIÁO

Nguyễn Xuân Nghĩa

Erwan Dianteill, nhà xã hội học tôn giáo đã đặt một câu hỏi rất xác đáng: tại sao mặc dù rất nhiều khái niệm cơ bản trong xã hội học của P. Bourdieu bắt nguồn từ những tác phẩm về tôn giáo của các nhà kinh điển, nhưng trong gia sản đồ sộ của ông, các bài viết về tôn giáo chiếm vị trí rất khiêm nhường so với các tác phẩm viết về nghệ thuật, văn chương, quyền lực, giáo dục, nghèo đói ? Hay P. Bourdieu chỉ là người thăm dò, khai phá « trường lực tôn giáo »[1] ?

Tại sao có hiện tượng nghịch lý như vậy ? Khái niệm trường lực có thể ứng dụng cho lãnh vực tôn giáo không ? Có thích hợp không để tìm hiểu cái tôn giáo (le religieux) trong thời hiện đại, thời « cực hiện đại » (ultramodernité) hay còn gọi là thời hiện đại hậu kì (modernité tardive) ?

Các yếu tố ảnh hưởng xã hội học tôn giáo của Pierre Bourdieu

Đóng góp độc đáo của Pierre Bourdieu cho xã hội học thể hiện qua lý thuyết trường lực (théorie des champs) và lý thuyết về tập tính (théorie de l’habitus) của ông[2]. Ông đã ứng dụng các lý thuyết này trong nhiều lãnh vực nghiên cứu: nghệ thuật, văn chương, giáo dục, giai cấp xã hội, nghèo đói và cả tôn giáo. Nhưng, như ông thừa nhận, các lý thuyết trên ít nhiều đều được gợi hứng khi ông đọc lại và nghiên cứu vấn đề tôn giáo. Ông cũng cho biết khái niệm « tập tính » đã được các nhà khoa học xã hội khác sử dụng trong một viễn tượng nào đó, từ Aristote, Hegel, Husserl, Weber, Durkheim, Mauss, nhưng ông đặc biệt chịu ảnh hưởng khi đọc tác phẩm của Panofski về kiến trúc gô-tích và triết học kinh viện[3]. Cũng vậy, khái niệm « trường lực » (champ) ít nhiều được gợi ý từ tư tưởng của Durkheim và Mauss khi hai tác giả này nghiên cứu về « tín ngưỡng » và từ tư tưởng của M. Weber, khi ông chú giải chương về xã hội học tôn giáo trong tác phẩm « Kinh tế và xã hội », như chính tác giả thừa nhận : « Tôi đã xây dựng khái niệm trường lực để chống lại, đồng thời cũng để theo Weber khi suy nghĩ về các tương quan giữa nhà tôn giáo chuyên nghiệp, nhà tiên tri và thầy phù thuỷ mà M. Weber đã đề nghị »[4].