Wednesday, June 10, 2020

Ngôi trường lý tưởng

Nguyễn Khánh Trung

Từ lâu, các suy tư triết học cũng như nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực đều thừa nhận mỗi con người là một chủ thể duy biệt.

Giáo dục nào nhìn nhận, tôn trọng và có những phương cách giáo dục dựa trên tính duy biệt này đều là một sự giáo dục tử tế và thành công, mà giáo dục Phần Lan là điển hình.

Dựa trên tính duy biệt của từng học sinh

Khi nhìn nhận và tôn trọng tính duy biệt nơi từng học sinh, người ta sẽ tôn trọng học sinh và dạy học sinh tôn trọng người khác, bớt đi sự áp đặt trong nội dung, cũng như trong thực hành giảng dạy.

Chẳng hạn, khi người làm giáo dục và các phụ huynh ý thức sâu sắc rằng mỗi đứa trẻ có một cách đón nhận thông tin khác nhau, nổi trội về một số loại hình thông minh khác nhau, thích hợp với một môi trường học tập khác nhau, người ta sẽ không định nghĩa chữ “ngoan” là “khoanh tay lên bàn mắt nhìn lên bảng, nghe cô giáo giảng ngoan thật là ngoan” như trong một bài hát phổ biến trong nhà trường Việt Nam; hệ thống giáo dục sẽ bớt đi việc phát giấy khen hàng loạt với những tiêu chuẩn giống nhau; người lớn lại càng không thể dùng bạo lực trong lời nói và hành vi để “dạy” trẻ nhỏ…

Bởi lẽ việc khoanh tay lên bàn mắt nhìn lên bảng và nghe cô giáo giảng chỉ thích hợp với một số học sinh này mà không thích hợp với một số học sinh khác. Các nhà giáo dục hiện đại đã phân loại nhiều “chân dung” học tập khác nhau, có học sinh mạnh về thính giác, có học sinh nghiêng về thị giác, nhưng cũng có những học sinh thiên về xúc giác. Những học sinh nghiêng về xúc giác và nổi trội về loại hình thông minh vận động thường không thể ngồi yên khoanh tay và nhìn lên bảng một cách chăm chú, mà các em phải có không gian để cử động, phải đổi tư thế liên tục, phải đụng chạm sờ mó… thì mới có thểtập trung, hiểu và thâu nhận kiến thức.

Khi người lớn biết rằng việc giỏi toán và giỏi văn chỉ là những thể hiện của hai trong tám loại hình thông minh, có thể là mặt mạnh của học sinh này mà không phải của học sinh khác, thì sẽ bớt đi việc so sánh, bớt đi việc ép con mình phải trở thành “học sinh giỏi” theo cách hiểu hiện nay, và cũng sẽ bớt đi việc khen thưởng một cách công khai các “học sinh giỏi” này.

Việc thi đua khen thưởng, đề cao một số môn học, áp đặt, và nhất là sử dụng bạo lực đều là “bà con” với nhau, cùng mục tiêu ép học sinh vào một khuôn mẫu duy nhất theo ý chí của người lớn, mà khuôn mẫu của người lớn không phải lúc nào cũng đúng, và nếu có đúng và tốt, chắc chắn không phải là mẫu số chung dành cho mọi học sinh.

Được tôn trọng và tôn trọng sự khác biệt nơi người khác

Trường học lý tưởng là trường học nơi đó người lớn nỗ lực tạo ra một môi trường dành cho tất cả, trong đó sự tôn trọng được đề cao, trở thành một giá trị mạnh trong giáo dục, nhờ vậy mỗi học sinh được tôn trọng và tôn trọng sự khác biệt nơi người khác, được học tập và phát triển theo cách của mình.

Người Phần Lan thành công vì họ nhận thức tính duy biệt này và đã áp dụng sự khác biệt hoá và cá nhân hoá trong giáo dục, họ thiết kế những chương trình nội dung, nghiên cứu các phương pháp và cả tạo ra môi trường phù hợp với từng cá nhân học sinh.

Môi trường giáo dục được cấu tạo bởi bốn yếu tố khác nhau: môi trường vật lý, cảm xúc, xã hội và trí tuệ; và cả bốn yếu tố này cần được cá nhân hoá vì mỗi trẻ tương thích với một loại khác nhau. Do vậy, người Phần Lan đã tạo nên một môi trường tự do để đáp ứng với mọi khuynh hướng của tất cả các học sinh, nhằm tạo điều kiện tốt nhất giúp mỗi em phát triển tối đa khả năng của mình.

Chẳng hạn trong lớp học, họ cho phép học sinh làm việc theo cách của mình, học sinh có thể ngồi, nằm, đi lại, làm việc cá nhân hay làm việc nhóm, miễn sao điều đó phù hợp với cá thể học sinh và dĩ nhiên không làm ảnh hưởng đến các bạn khác.

Muốn được như vậy, người lớn phải chăm chút từng trẻ, hiểu biết sự khác biệt nơi từng trẻ và dạy cho trẻ hiểu biết bản thân, qua đó cùng trẻ thiết kế nên môi trường học tập, phương pháp học tập và kế hoạch học tập của riêng mình.

Đó là một ngôi trường nuôi dưỡng những ước mơ và đam mê của học sinh, cho các em một động lực học tập từ bên trong mang tính lâu dài.

Nguồn: Thế giới Hội nhập: https://thegioihoinhap.vn/van-hoa-giao-duc/giao-duc/ngoi-truong-ly-tuong/

"Bộ Giáo dục nên chừa chỗ trống để giáo viên, trường học...điền vào"

Nguyễn Khánh Trung

Khi sách giáo khoa lưu thông trên thị trường như một hàng hóa, Bộ GD-ĐT cần đứng ở vai trò trọng tài tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh và công bằng.

Lời toà soạn: Thời gian gần đây, câu chuyện làm sách giáo khoa theo chương trình mới đang được những người làm giáo dục quan tâm. Một trong những ý kiến đang nhận được quan điểm khác nhau là có nên để Bộ GD-ĐT tự biên soạn một bộ sách, song song với việc để cho các tổ chức, cá nhân khác làm công việc này. Trong bài viết dưới đây, TS Giáo dục Nguyễn Khánh Trung cho rằng Bộ không nên biến mình thành một bên trực tiếp "sản xuất" và tham gia cạnh tranh đồng thời đóng vai trò trọng tài. VietNamNet xin giới thiệu bài viết và mong nhận được sự thảo luận rộng rãi của độc giả. Xin trân trọng cảm ơn.

Hợp với con người

Rất nhiều công trình nghiên cứu, nhiều lý thuyết hiện nay đã khẳng định một cách rõ ràng rằng con người - mà ở đây là học sinh - ngay từ trong bụng mẹ đã tỏ ra là những chủ thể duy nhất và khác biệt xét về mọi khía cạnh: Từ tâm sinh lý, các loại hình thông minh, cấu trúc não bộ, đến cách học, cách thu nhận thông tin, cách tạo ra động lực học tập…

Cũng ngay từ lọt lòng mẹ, mỗi người trải qua một "quá trình xã hội hóa" (nói theo ngôn ngữ xã hội học) khác nhau, bởi hoàn cảnh gia đình, khu xóm, trường học, văn hóa vùng miền, dân tộc đều khác nhau. Những điều này góp phần làm hình thành nhân cách, tập tính riêng của mỗi người.

Hay nói cách khác, mỗi người là một chủ thể duy biệt. Vậy nên, một sự giáo dục tử tế và chất lượng là sự giáo dục dựa trên tính duy biệt nơi mỗi học sinh.

Hợp với bản chất xã hội

Bởi xã hội là một tập hợp những con người với bản chất duy biệt như đã nói. Xã hội đa dạng bao gồm nhiều thành phần, nhiều nhóm văn hóa, nhiều tầng lớp… Điều này là tự nhiên và phổ biến.

Do vậy, giáo dục cũng cần có sự đa dạng để có thể đáp ứng với nhu cầu của các nhóm khác nhau, một chương trình, nhiều bộ sách giáo khoa là để đáp ứng bản chất này của xã hội với sự tôn trọng tính khác biệt và dân chủ.

Như vậy, có thể xây dựng một chương trình quốc gia chung với những điều cơ bản về mục tiêu, về nội dung cốt lõi, nhưng sách giáo khoa và những thứ khác thì cần phải khác nhau để đáp ứng và phù hợp với sự duy biệt xét về mặt cá nhân cũng như xã hội.

Bên cạnh việc có nhiều sách giáo khoa, Bộ GD-ĐT cũng cần phân quyền tự chủ cho các địa phương, các trường, đặc biệt là cho các giáo viên để họ lựa chọn sách phù hợp với đặc điểm của từng vùng miền cũng như của học sinh trong trường, lớp của họ.

Nên quan niệm các bộ sách giáo khoa chỉ là giáo cụ, giáo viên có thể sử dụng hoặc không sử dụng để chuyển tải chương trình quốc gia. Bộ GD-ĐT muốn đánh giá hay kiểm định chất lượng giáo dục thì nên dựa vào chương trình quốc gia, chứ không lấy bất kỳ bộ sách giáo khoa nào làm chuẩn mực.

Những điều này không mới mẻ gì, các nước phát triển đã áp dụng từ lâu vì nó phù hợp với bản chất của con người và xã hội. Phần Lan thành công trong giáo dục phổ thông theo tôi cũng nhờ họ thừa nhận và bám vào bản chất duy biệt này nơi từng học sinh, để tìm cách hỗ trợ từng học sinh phát triển tối đa khả năng của mỗi em và theo cách riêng của mỗi em.

Bộ GD-ĐT không nên tham gia biên soạn sách giáo khoa

Theo logic trên, việc Bộ GD-ĐT tham gia biên soạn sách giáo khoa là điều không hợp lý và không cần thiết xét về nhiều mặt. Khi kêu gọi các nhóm tư nhân tham gia biên soạn sách và lưu thông trên thị trường như một loại "hàng hóa" thì Bộ cần tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh và công bằng.

Và để được vậy, Bộ nên đứng ngoài để đóng vai trò trọng tài. Bộ không nên biến mình thành một bên trực tiếp "sản xuất" và tham gia cạnh tranh đồng thời đóng vai trò trọng tài, thì sự vô lý và bất công là hiển hiện mà thiên hạ hay gọi là hiện tượng "vừa đá bóng vừa thổi còi".

Tôi nghĩ, cái cần nhất là Bộ tập trung vào việc biên soạn Chương trình cốt lõi quốc gia với những điều cơ bản và hãy chừa chỗ trống cho các chủ thể trực tiếp bên dưới như học sinh, giáo viên, các trường, các vùng "điền vào" để có thể đáp ứng nhu cầu của các cá nhân và xã hội.

Trong tình trạng Việt Nam hiện nay, điều cần nhất là Bộ GD-ĐT tập trung vào việc nâng cao chất lượng của các trường đào tạo giáo viên. Cải cách có thành công hay không phụ thuộc phần lớn vào các giáo viên, chứ không phải phụ thuộc vào sách giáo khoa.

Nguồn:Vietnamnet:  https://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/nguoi-thay/viet-sach-giao-khoa-bo-giao-duc-nen-dung-o-vai-tro-trong-tai-513834.html?fbclid=IwAR2Yrxbpu8Ga6lw_uOc93utEjSyQ6M82pRQlzVJbvyX9D2yvIjyFaqJzryo

Thống nhất về khái niệm

Nguyễn Khánh Trung

Câu chuyện triết lý giáo dục đã làm tốn hao khá nhiều giấy mực, nhưng đến nay vẫn chưa có hồi kết. Theo tôi, trước hết mọi người cần tìm hiểu khái niệm. Tranh luận chỉ có kết quả khi chúng ta nhất trí với nhau và cùng khởi đi từ một số điểm căn bản nào đó.

Khái niệm “triết lý giáo dục”

Nói đến khái niệm “triết lý giáo dục” là nói đến triết và giáo dục. Triết gia là những chuyên gia làm việc, suy tư trên các ý tưởng, khái niệm. Họ phân tích, xếp loại, truy vấn hay tạo ra các khái niệm mới dựa trên cơ sở lý tính, sự chặt chẽ của phép logic. Triết học là mẹ của các khoa học vì khoa học nào cũng cần sự chặt chẽ, biện chứng, lý tính và tinh thần truy vấn. Giáo dục cũng là khoa học, ngành có đối tượng là con người nên lại càng cần sự soi sáng của triết học.

Như vậy, khái niệm “triết lý giáo dục” ám chỉ những suy tư, truy vấn mang tính triết lý trên mọi khía cạnh của giáo dục, là việc “đặt vấn đề trên tất cả những gì chúng ta biết và chúng ta tin trong giáo dục” (Reboul, 1989, tr.13). Theo đó, định nghĩa này của Olivier Reboul nhấn mạnh đến ba chiều kích. Tính toàn bộ, nghĩa là không có khía cạnh nào trong giáo dục thoát ra khỏi sự truy vấn của triết học. Tính triệt để, sự truy vấn phải đi tới cùng, tới nguồn cội, không thể có chuyện bàn đến cách giảng dạy thế nào mà không đặt câu hỏi trên các mục tiêu của việc giảng dạy đó là gì. Tính thực tế cuộc sống, sự truy vấn không chỉ dừng lại ở những tri thức, nội dung được giảng dạy, mà còn trên sản phẩm được đào tạo, liệu học sinh sau khi ra trường sẽ thế nào trong sự tương quan với xã hội và thế giới công việc?

Nghĩa là khi nói đến triết lý giáo dục là nói đến tính triết lý, là mức độ và chất lượng các tư tưởng trên các khía cạnh của giáo dục, đặc biệt là mục tiêu giáo dục. Triết lý giáo dục khác với triết học giáo dục, khác học thuyết (doctrine), mặc dù nó có mối liên hệ với nhau.

Phải rõ ràng, mạch lạc và thuyết phục

Đọc các điểm trong mục tiêu giáo dục quốc gia của Pháp hay Phần Lan, tôi thấy họ định nghĩa một cách chí lý, phù hợp thời thế, thuyết phục. Tức là họ có triết lý giáo dục ở tầm mức cao. Tư tưởng ở tầm vĩ mô rõ ràng, mạch lạc và thuyết phục được mọi người, thì phương thức tổ chức, giảng dạy từ trên xuống dưới cũng sẽ dễ dàng và mạch lạc.

Còn khi đọc mục tiêu giáo dục của ta thể hiện trong các văn bản, tôi thấy có nhiều mâu thuẫn, khó thuyết phục… Nghĩa là “triết lý giáo dục” của ta yếu lý lẽ và không hợp thời, không thu hút được lòng người, chứ không phải là không có hay chưa có. Nếu tôi thấy như thế thì có lẽ nhiều người khác cũng thấy thế. Tư tưởng ở tầm vĩ mô đóng vai trò dẫn đạo mà mập mờ, thiếu thống nhất, thiếu tính thuyết phục thì làm sao có thể thấm vào tâm vào não của từng giáo viên, từng học sinh, từng phụ huynh để cùng nhau hướng về một cái đích chung! Vậy nên chúng ta cãi nhau mãi, trong khi giáo dục xuất hiện nhiều chuyện phi lý đến khó tin, cũng là điều không có gì lạ.

Tôi nghĩ chúng ta đừng đổ hết điều này cho Bộ Giáo dục và Đào tạo, vì nó liên quan đến chủ thuyết, đến “lý tưởng” đang dẫn dắt xã hội nói chung và nền giáo dục nói riêng. Như Durkheim, nhà sáng lập xã hội học người Pháp từng nói đại ý: Những gì xảy ra trong giáo dục là dấu chỉ, là phản ánh của những gì đang xảy ra ngoài xã hội. Nên việc thiếu tính triết lý trong hệ thống giáo dục phản ánh sự thiếu tính triết lý trong xã hội. Không có một nền giáo dục xuất sắc trong một xã hội chậm tiến và ngược lại. Nếu ngoài xã hội không cổ vũ tinh thần khai phóng, không khuyến khích óc phản biện và sáng tạo, thì nhà trường khó lòng nuôi dưỡng, phát triển được những điều này và ngược lại.

Ở các nước phát triển thì xem đó là vốn chất xám của xã hội và của mỗi cá nhân. Một trong những nhiệm vụ trọng yếu nhất của hệ thống giáo dục là truyền bá chúng, phản biện chúng, làm mới chúng, phát triển chúng… với mục tiêu là mỗi cá nhân đạt đến sự trưởng thành, độc lập trong tư duy, biết và có thói quen phản biện. Tôi nghĩ chỉ như vậy thì quốc gia mới có thể phát triển cao và sâu, trở nên hùng cường về mọi mặt.

Vậy nên phải luôn như câu khẩu hiệu của Tạp chí sư phạm ở Pháp: “Thay đổi xã hội để thay đổi nhà trường, thay đổi nhà trường để thay đổi xã hội” (Cahiers Pedagogiques).

Khi giáo dục không có hoặc yếu triết lý, thì xã hội cũng vậy, thiếu nền tảng và mất định hướng, cá nhân và quốc gia đều chênh vênh! Do đó, trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay, các chuyên gia nên nghiên cứu, tranh luận một cách kỹ lưỡng nhằm rút ra những lý luận mang tính triết lý, làm nền tảng chắc chắn cho hệ thống giáo dục.

Nguồn: http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=78&NewsId=413185&fbclid=IwAR3IaqqrWmsPDES83lMsR8-nJNJGWD0A2vwbitp7qaC_7cLqoQWRfAERouA

Nghệ thuật giúp trẻ học tập tốt hơn

Nguyễn Khánh Trung

Theo giáo sư Makoto Shichida, khi mới sinh ra, trẻ đã vận dụng não phải, vốn có khả năng tiếp thu các kích thích bên ngoài dưới dạng những chuyển động sóng (không liên quan gì đến năm giác quan) để chuyển đổi những chuyển động sóng này thành những hình ảnh.

uy nhiên khi trẻ lớn lên, bắt đầu tiếp xúc với giáo dục nhà trường, những khả năng tự nhiên nơi trẻ sẽ mất dần, nghĩa là thay vì nhà trường tìm cách nuôi dưỡng và phát triển những khả năng sẵn có, đã đưa trẻ vào một hệ thống với nhiều hạn chế, đặc biệt là làm hạn chế khả năng của não phải. Cách thức giảng dạy kéo theo cách thức học tập không thuận theo tự nhiên, làm mất cân bằng giữa hai bán cầu não và do đó làm hạn chế năng lực vốn có của con người.

Theo tôi, giáo dục Việt Nam đã dựa quá nhiều trên các chức năng của não trái mà bỏ qua hoặc không mấy quan tâm đến phần não phải, xem nhẹ các yếu tố thuộc về trực quan, cảm xúc, xem nhẹ giáo dục nghệ thuật, đặc biệt là âm nhạc và hội hoạ. Thế nhưng, thật trớ trêu, bán cầu não trái vốn gắn chặt với nhà trường như vậy có rất ít khả năng ghi nhớ so với não phải. Những gì học sinh nhớ được chủ yếu dựa trên việc lặp đi lặp lại các bài học hay các bài tập.

Theo Bruno Hourst, sở trường của não phải là ghi nhớ, nó mã hoá thông tin bằng cách thức không lời và kết nối thông tin với những cảm xúc và các yếu tố như nhịp điệu, màu sắc, hình dạng, hình ảnh. Đó là quá trình tạo ra những ký ức mà chúng ta lưu giữ trong trí nhớ, thậm chí là khi những ký ức này đã xảy ra từ rất lâu.

Để cải thiện sự mất quân bình nói trên, cần chú ý tạo ra một môi trường phong phú và đa dạng, ở đó cho phép bộ não vận dụng hết khả năng của hai bán cầu; thúc đẩy tiếp cận tổng quát cũng như tiếp cận phân tích; ưu tiên các yếu tố mang tính cảm xúc, có hình ảnh để ghi nhớ tốt hơn. Âm nhạc có thể giúp sự kết nối khả năng của hai bán cầu và kích thích não phải phát huy vai trò.Tạp chí Nature đã công bố những kết quả từ một thí nghiệm của Mỹ được tiến hành tại trung tâm thần kinh học phục vụ việc học và ghi nhớ. Người ta đã cho 36 học sinh trung học cơ sở làm các bài kiểm tra về trí nhớ, trước rồi sau một số hoạt động, trong đó cho nghe một bản Sonate của Mozart. Kết quả, tất cả học sinh sau khi nghe nhạc của Mozart đều có kết quả tăng lên đến 9 điểm. Các nhà nghiên cứu đã đánh giá rằng, âm nhạc cổ điển có thể cải thiện khả năng lập luận trừu tượng (đặc biệt là khả năng vận dụng vào toán học hoặc môn cờ vua) bằng cách củng cố sự kết nối giữa các phần khác nhau của não. Họ cho rằng chìa khoá của kết quả này chính là tính phức hợp của bản nhạc.

Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy, trường học nào tạo không gian và điều kiện cho các môn nghệ thuật như hội hoạ, âm nhạc phát triển, học sinh luôn đạt được kết quả tốt.



Giảng dạy sử trong chương trình lớp 6 ở Pháp

Nguyễn Khánh Trung

Cuộc thi tốt nghiệp phổ thông trung học cơ sở năm 2018 vừa kết thúc và khi điểm số được công bố, không ai có thể làm ngơ trước con số: 83% bài thi môn sử dưới điểm trung bình, trong đó có gần 50% bài bị điểm liệt.


TS Trần Khánh Trung, giám đốc trung tâm Emile Việt Education (EVE) tại Sài Gòn, đã gởi đến báo TGTT bài viết về giảng dạy sử ở chương trình lớp 6 của Pháp, như một ý kiến tham khảo cần thiết cho môn này ở Việt Nam.

Môn sử ở Pháp được giảng dạy thế nào?

Thử tìm hiểu điều này thông qua cuốn sách giáo khoa lớp 6 “tích hợp” gồm ba môn: lịch sử – địa lý – giáo dục đạo đức và công dân. Xuyên suốt các bài học trong sách giáo khoa có năm hoạt động: tranh luận, đóng vai, thuyết trình, biện luận và thực hiện những chọn lựa và nghiên cứu.

Từ khoá chính trong từng trang sách là “competence” (năng lực, kỹ năng). Các kỹ năng được chia thành bốn mức khi đánh giá học sinh: mức 1 là chưa đạt; mức 2 là còn yếu; mức 3 là thoả mãn và mức 4 là đạt.

Nhiệm vụ của mỗi phần, mỗi chương là để trang bị cho các học sinh một số kỹ năng cụ thể, đó là các kỹ năng về làm việc nhóm, các kỹ năng của nhà nghiên cứu như biết đặt câu hỏi, thiết lập các giả thuyết, kiểm chứng, biện luận, khai thác các tài liệu, xác định thời gian, không gian, viết, trình bày…

Phần cuối của mỗi chương luôn có phần bài tập và phần để các học sinh tự đánh giá một số kỹ năng của bản thân. Trong các phần luôn có hộp thông tin (box) quan trọng dẫn các em đến các trang web để tải một phần mềm miễn phí; nhằm sử dụng vào việc học hoặc để làm bài tập, xem một phim tài liệu, một bộ sưu tập của bảo tàng số…

Như vậy có thể thấy, học sinh không học thuộc lòng các kiến thức có sẵn mà học để có năng lực, học phương pháp, học cách tư duy và thực hành của nhà sử học.

Nội dung của chương trình

Chương trình lịch sử lớp 6 ở Pháp có ba chủ đề lớn.Ở đây, tôi chỉ trình bày chương 1 của chủ đề 1 như một ví dụ để minh hoạ sâu hơn những gì đã trình bày ở trên.

Chủ đề 1 “Lịch sử dài của nhân loại và di cư” được chia thành ba chương. Chương 1 là “Khởi đầu của loài người”. Trang đầu tiên trước khi đi vào nội dung gồm các nội dung: ba câu hỏi trắc nghiệm và những câu trả lời để xem những gì học sinh đã biết trước khi đi vào nội dung chương này; nêu rõ mục tiêu “trong chương này, sẽ: xác định những giai đoạn chính của thời tiền sử, mô tả lối sống của người tiền sử và giải thích con người đã cư trú trên hành tinh thế nào”.

Ngoài ra, còn có những yêu cầu: chỉ dẫn học sinh truy cập web để xem video tài liệu Sự phiêu lưu của những con người đầu tiên, yêu cầu học sinh theo dõi nắm bắt những phát hiện của các nhà nghiên cứu sinh học cổ và khám phá những sưu tầm của bảo tàng mới về con người; trình bày những kỹ năng mà học sinh sẽ phải đạt được thông qua việc học bài này: kỹ năng 1: biết và sử dụng được các thuật ngữ thích hợp; kỹ năng 2: sử dụng được một tài liệu; kỹ năng 3: làm việc nhóm và kỹ năng 4: biết tự định vị trong thời gian. Mỗi phần trong nội dung của chương sẽ gắn với một kỹ năng cụ thể.

Học sinh làm gì?

Trong box đầu chương, học sinh được yêu cầu nhập vai như thành viên của nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra bộ xương hoá thạch năm 1984 có biệt danh là “Thiếu niên Turkana”.Nhiệm vụ của học sinh là làm việc nhóm để nghiên cứu và trình bày bằng một bài viết.

Để giúp học sinh làm điều này, trong một box khác, các tác giả sách giáo khoa đem ra những câu hỏi cụ thể chẳng hạn: cái gì? ở đâu? trong tình trạng nào? trong lớp đất nào? tương ứng với thời kỳ nào? Học sinh có thể tìm các thông tin trong các mục sau đó như giới thiệu địa điểm khai quật phát hiện ra bộ xương, so sánh với các bộ xương người tiền sử khác, các công cụ lao động đầu tiên của người tiền sử.

Sách cũng không quên hướng dẫn các học sinh tải phần mềm để làm cho bài viết đẹp hơn với yêu cầu trình bày ngắn gọn bằng ngôn ngữ của lớp 6.

Thông qua thực hành trong chương này, học sinh học được các năng lực: làm việc nhóm, tự đặt các câu hỏi và các giả thuyết, kiểm chứng, biện luận. Đó là những kỹ năng, năng lực của nhà sử học, nhà nghiên cứu!

Dạy sử là để tập cho học sinh các kỹ năng và thói quen của nhà sử học: biết nghiên cứu, biết đọc các dữ liệu lịch sử, biết phản biện và tư duy độc lập, biết trình bày bằng văn bản và bằng lời các vấn đề lịch sử. Không phải ngẫu nhiên mà người trẻ tại các nước phát triển nói chung và Pháp thường tỏ ra tự chủ, có chính kiến, biết làm việc nhóm và hợp tác với người khác một cách hiệu quả. Trong khoa học, họ có nhiều phát minh, nhiều công bố quốc tế, ít đạo văn… vì tất cả những điều này đã được luyện tập rất kỹ trong các môn học trong chương trình giáo dục phổ thông.

Nguồn: Thế giới Hội nhập: https://thegioihoinhap.vn/van-hoa-giao-duc/giao-duc/giang-day-su-trong-chuong-trinh-lop-6-o-phap/

Nhìn về "sản phẩm" giáo dục hôm nay

Nguyễn Khánh Trung

Bằng kinh nghiệm của mình, Chuyên gia Giáo dục, Tiến sĩ Nguyễn Khánh Trung (Trưởng dự án Giáo dục Emile Việt) cho rằng, bệnh thành tích trong giáo dục, "chạy chọt", gian lận điểm số của phụ huynh đang góp phần đắc lực hủy hoại tương lai của giới trẻ.



Có thể nói, những người làm giáo dục hôm nay phải chịu trách nhiệm với xã hội ngày mai. Những yếu tố chính tác động đến đứa trẻ chủ yếu đến từ chương trình, cách dạy, môi trường sư phạm, gia đình và xã hội xung quanh.

Vì vậy, những người làm giáo dục (bao gồm giáo dục nhà trường và cả giáo dục gia đình) hôm qua phải chịu trách nhiệm về "sản phẩm" giáo dục hôm nay. Đồng thời, những người làm giáo dục hôm nay sẽ phải chịu trách nhiệm với xã hội mai sau.

Cần những con người chất lượng cao

Nhìn lại, hiện trạng giáo dục nước ta hiện nay vẫn còn tồn tại những vấn đề như áp lực học tập, chạy theo thành tích. Cùng với đó, câu chuyện gian lận điểm số trong kỳ thi THPT Quốc gia 2018 ở một số địa phương vốn có căn nguyên từ quá khứ. Nói đúng hơn, câu chuyện buồn ấy có gốc rễ từ văn hóa chứ không đơn giản chỉ là câu chuyện riêng của ngành giáo dục. Bởi vậy, muốn giải quyết tận gốc thực trạng này cần có những giải pháp toàn diện và triệt để, không chỉ điều tra, xử phạt và để đó.

Phần Lan vốn là đất nước có một nền giáo dục tốt hạng nhất thế giới mà chúng ta mong muốn học hỏi. Nhưng sẽ khó đạt được như họ nếu chúng ta không có một môi trường xã hội với những con người tương ứng. Họ không chỉ có một nền giáo dục tốt nhất mà còn có một xã hội minh bạch bậc nhất, có chỉ số lòng tin giữa người với người, giữa người dân và các tổ chức cao nhất…

Chạy để nâng thứ hạng cho con, được gì?

Tất cả những yếu tố đó tạo nền móng vững chắc để họ xây dựng một nền giáo dục phục vụ con người, đặt con trẻ làm trung tâm. Để rồi, từ nền giáo dục ấy lại tạo ra những con người có chất lượng cao, tiếp tục duy trì và phát triển xã hội.

Nhìn lại nền giáo dục nước ta sau sự việc liên quan đến gian lận điểm số cùng với những áp lực học hành mà trẻ đang phải gánh chịu, có một phần trách nhiệm không nhỏ của cha mẹ và giáo viên.

Những người này sẵn sàng "chạy", can thiệp nhằm nâng điểm, nâng thứ hạng cho con em mình. Theo quan điểm của nhiều người, đó cũng là một cách lo cho tương lai của con. Tuy nhiên, theo cá nhân tôi, đó là một kiểu hủy diệt nhân cách của đứa trẻ. Bởi những hành động "dọn chỗ" cho tương lai của con đã không cho con cơ hội để khẳng định mình, để trưởng thành và để tự xây dựng tương lai cũng như đời sống của riêng mình.

Bằng hành động "dọn đường", định đoạt tương lai của con, phụ huynh không cho con thực hiện những lựa chọn của mình. Nói đúng hơn, họ không quan tâm đến sự khác biệt nơi con. Họ cũng không nhìn ra những thế mạnh và điểm yếu ở con. Chúng ta quen áp đặt con lập trình theo những gì mình muốn trong khi con cái có mong muốn khác cha mẹ mình.

Vì vậy, việc áp đặt con, nhân danh tình yêu thương để "bó khuôn" con vô tình đánh cắp đi sự trưởng thành, cũng như tương lai của đứa trẻ. Nhưng có một sự thật, thực trạng này không phải cha mẹ nào cũng nhận ra hoặc cũng hiểu.

Nhiều người muốn con đạt điểm cao với bất cứ giá nào để có được "tấm vé" ưu tiên trên đường thăng quan tiến chức về sau. Nhưng họ không hiểu hay nghĩ đến chuyện phải giáo dục con như ý nghĩa của hai từ giáo dục vốn có. Ngược lại, họ đang thực hiện những hành vi phản giáo dục nhưng vẫn "cố đấm ăn xôi". Vì vậy, việc "chạy chọt", gian lận điểm số của một số phụ huynh đang góp phần đắc lực hủy hoại tương lai của giới trẻ.

Bởi lẽ, giáo dục là công việc tạo ra một môi trường lành mạnh, thích hợp tại trường và tại nhà. Giáo dục cũng là tìm cách trợ giúp con trẻ phát triển các năng lực về mặt trí tuệ, tinh thần đạo đức và thể chất. Qua đó, trẻ phát triển toàn diện, có năng lực tự kiến tạo đời sống của bản thân và góp phần xây dựng, thúc đẩy xã hội phát triển.

Có thể nói, phát triển nhân cách là một tiến trình, một con đường dài. Nếu người lớn bố trí trên con đường đó sự tử tế, hẳn con cái họ sẽ có cơ hội trưởng thành và trở thành những con người tử tế. Ngược lại, nếu người lớn tạo ra trên con đường đó đầy những mánh khóe, không ngay thẳng, giành giật nhau, bon chen, trẻ sẽ được gì? Chắc chắn điều này tựa như những "trái độc", người gặp nguy hiểm trước hết là chính con em họ.Giáo dục liên quan đến nhân cách con người, liên quan đến tập tính tốt, xấu của cả xã hội. Giáo dục không phải là nhồi nhét kiến thức, càng không phải những con điểm, nhất là những điểm số bất chính.

Những đứa trẻ ấy sẽ nhận được gì khi không học mà cũng đậu cao? Trẻ khi rớt tốt nghiệp mà vẫn thành thủ khoa, các cháu rồi sẽ thành thế nào khi ra đời với cái đầu rỗng? Khi không kiến thức, không kỹ năng, không trung thực, không tự chủ có khiến họ trở nên thành công và hạnh phúc? Đó không phải là cách giáo dục con cháu thành “người”.

Tuy nhiên, không ít bậc phụ huynh sẵn sàng bất chấp tất cả, chỉ cốt con em mình có những điểm số cao vô nghĩa, nhằm ngồi vào những vị trí được bố trí sẵn. Ngẫm lại, sẽ thật đáng sợ, đáng giật mình nếu những người với cái đầu rỗng sẽ lấy cắp cơ hội của người khác.

                               


Nguồn: Báo Thế giới và Việt Nam: https://baoquocte.vn/nhin-ve-san-pham-giao-duc-hom-nay-78739.html?fbclid=IwAR09K4pIyzRt9WOih3W3KxDCssd2oH13rWa5krhN-rsXEAG89bFD0PLNnnA

Friday, April 20, 2018

Xin giới thiệu 2 chuyên đề của TS. Nguyễn Thị Ngọc Dung


Emile Việt Education

Có lẽ ai trong chúng ta cũng mong con cái trưởng thành, có khả năng ra quyết định, có khả năng phân định đâu là đúng đâu là sai trước mọi điều, đặc biệt có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội phải không?
Rồi nữa, làm thế nào để dạy con kỹ năng thiết lập mục tiêu, thiết lập và thực hiện các kế hoạch đề ra trong cuộc sống và trong việc học tập ?
Bạn đã biết cách, biết phương pháp dạy con đạt đến những điều quan trọng nói trên chưa?
TS. Nguyễn Thị Ngọc Dung sẽ giúp bạn giải quyết những vấn đề nói trên thông qua hai chuyên đề sau:
• Chuyên đề 7: “Dạy con các kỹ năng phản biện và phản hồi (khả năng tự phán đoán, phân định đúng sai và đem ra những quyết định và phản hồi trước các tình huống)” sẽ diễn ra vào chiều thứ Bảy ngày 21/04/2018
• Chuyên đề 8: “Phương pháp dạy con các kỹ năng ấn định các mục tiêu, thiết lập và thực hiện các kế hoạch” sẽ diễn ra vào chiều Chủ nhật ngày 22/04/2018
Bạn có thể đăng ký theo từng chuyên đề riêng biệt. Dưới đây là các đường link đăng ký:
• Chuyên đề 7: https://goo.gl/forms/IOb2uEu9aGWORJOa2
• Chuyên đề 8: https://goo.gl/forms/XnvzSvdd1aE1pTMF2
Còn đây là đường link thông tin chi tiết của toàn bộ chương trình đào tạo : https://bit.ly/2pYRggu
Văn hóa gia đình và phong cách giáo dục của cha mẹ là nền tảng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển, sự trưởng thành cũng như cách thức tư duy, khả năng làm chủ cảm xúc của con trẻ.
Hãy dạy con bước đi trên đội chân của mình, đó là nhân phẩm!
Hãy thương con đúng cách và đầu tư cho con đúng phương pháp nhé bạn.
Nguồn: https://www.facebook.com/emileviet/?hc_ref=ARSN7xH_s11BzQXLbOy-fe1m5xq-_fSSemkezEqd1R7bVXG1w25JLBv1Uy-Gm5ad6f0&fref=nf