Wednesday, June 10, 2020

Thống nhất về khái niệm

Nguyễn Khánh Trung

Câu chuyện triết lý giáo dục đã làm tốn hao khá nhiều giấy mực, nhưng đến nay vẫn chưa có hồi kết. Theo tôi, trước hết mọi người cần tìm hiểu khái niệm. Tranh luận chỉ có kết quả khi chúng ta nhất trí với nhau và cùng khởi đi từ một số điểm căn bản nào đó.

Khái niệm “triết lý giáo dục”

Nói đến khái niệm “triết lý giáo dục” là nói đến triết và giáo dục. Triết gia là những chuyên gia làm việc, suy tư trên các ý tưởng, khái niệm. Họ phân tích, xếp loại, truy vấn hay tạo ra các khái niệm mới dựa trên cơ sở lý tính, sự chặt chẽ của phép logic. Triết học là mẹ của các khoa học vì khoa học nào cũng cần sự chặt chẽ, biện chứng, lý tính và tinh thần truy vấn. Giáo dục cũng là khoa học, ngành có đối tượng là con người nên lại càng cần sự soi sáng của triết học.

Như vậy, khái niệm “triết lý giáo dục” ám chỉ những suy tư, truy vấn mang tính triết lý trên mọi khía cạnh của giáo dục, là việc “đặt vấn đề trên tất cả những gì chúng ta biết và chúng ta tin trong giáo dục” (Reboul, 1989, tr.13). Theo đó, định nghĩa này của Olivier Reboul nhấn mạnh đến ba chiều kích. Tính toàn bộ, nghĩa là không có khía cạnh nào trong giáo dục thoát ra khỏi sự truy vấn của triết học. Tính triệt để, sự truy vấn phải đi tới cùng, tới nguồn cội, không thể có chuyện bàn đến cách giảng dạy thế nào mà không đặt câu hỏi trên các mục tiêu của việc giảng dạy đó là gì. Tính thực tế cuộc sống, sự truy vấn không chỉ dừng lại ở những tri thức, nội dung được giảng dạy, mà còn trên sản phẩm được đào tạo, liệu học sinh sau khi ra trường sẽ thế nào trong sự tương quan với xã hội và thế giới công việc?

Nghĩa là khi nói đến triết lý giáo dục là nói đến tính triết lý, là mức độ và chất lượng các tư tưởng trên các khía cạnh của giáo dục, đặc biệt là mục tiêu giáo dục. Triết lý giáo dục khác với triết học giáo dục, khác học thuyết (doctrine), mặc dù nó có mối liên hệ với nhau.

Phải rõ ràng, mạch lạc và thuyết phục

Đọc các điểm trong mục tiêu giáo dục quốc gia của Pháp hay Phần Lan, tôi thấy họ định nghĩa một cách chí lý, phù hợp thời thế, thuyết phục. Tức là họ có triết lý giáo dục ở tầm mức cao. Tư tưởng ở tầm vĩ mô rõ ràng, mạch lạc và thuyết phục được mọi người, thì phương thức tổ chức, giảng dạy từ trên xuống dưới cũng sẽ dễ dàng và mạch lạc.

Còn khi đọc mục tiêu giáo dục của ta thể hiện trong các văn bản, tôi thấy có nhiều mâu thuẫn, khó thuyết phục… Nghĩa là “triết lý giáo dục” của ta yếu lý lẽ và không hợp thời, không thu hút được lòng người, chứ không phải là không có hay chưa có. Nếu tôi thấy như thế thì có lẽ nhiều người khác cũng thấy thế. Tư tưởng ở tầm vĩ mô đóng vai trò dẫn đạo mà mập mờ, thiếu thống nhất, thiếu tính thuyết phục thì làm sao có thể thấm vào tâm vào não của từng giáo viên, từng học sinh, từng phụ huynh để cùng nhau hướng về một cái đích chung! Vậy nên chúng ta cãi nhau mãi, trong khi giáo dục xuất hiện nhiều chuyện phi lý đến khó tin, cũng là điều không có gì lạ.

Tôi nghĩ chúng ta đừng đổ hết điều này cho Bộ Giáo dục và Đào tạo, vì nó liên quan đến chủ thuyết, đến “lý tưởng” đang dẫn dắt xã hội nói chung và nền giáo dục nói riêng. Như Durkheim, nhà sáng lập xã hội học người Pháp từng nói đại ý: Những gì xảy ra trong giáo dục là dấu chỉ, là phản ánh của những gì đang xảy ra ngoài xã hội. Nên việc thiếu tính triết lý trong hệ thống giáo dục phản ánh sự thiếu tính triết lý trong xã hội. Không có một nền giáo dục xuất sắc trong một xã hội chậm tiến và ngược lại. Nếu ngoài xã hội không cổ vũ tinh thần khai phóng, không khuyến khích óc phản biện và sáng tạo, thì nhà trường khó lòng nuôi dưỡng, phát triển được những điều này và ngược lại.

Ở các nước phát triển thì xem đó là vốn chất xám của xã hội và của mỗi cá nhân. Một trong những nhiệm vụ trọng yếu nhất của hệ thống giáo dục là truyền bá chúng, phản biện chúng, làm mới chúng, phát triển chúng… với mục tiêu là mỗi cá nhân đạt đến sự trưởng thành, độc lập trong tư duy, biết và có thói quen phản biện. Tôi nghĩ chỉ như vậy thì quốc gia mới có thể phát triển cao và sâu, trở nên hùng cường về mọi mặt.

Vậy nên phải luôn như câu khẩu hiệu của Tạp chí sư phạm ở Pháp: “Thay đổi xã hội để thay đổi nhà trường, thay đổi nhà trường để thay đổi xã hội” (Cahiers Pedagogiques).

Khi giáo dục không có hoặc yếu triết lý, thì xã hội cũng vậy, thiếu nền tảng và mất định hướng, cá nhân và quốc gia đều chênh vênh! Do đó, trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay, các chuyên gia nên nghiên cứu, tranh luận một cách kỹ lưỡng nhằm rút ra những lý luận mang tính triết lý, làm nền tảng chắc chắn cho hệ thống giáo dục.

Nguồn: http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=78&NewsId=413185&fbclid=IwAR3IaqqrWmsPDES83lMsR8-nJNJGWD0A2vwbitp7qaC_7cLqoQWRfAERouA

Nghệ thuật giúp trẻ học tập tốt hơn

Nguyễn Khánh Trung

Theo giáo sư Makoto Shichida, khi mới sinh ra, trẻ đã vận dụng não phải, vốn có khả năng tiếp thu các kích thích bên ngoài dưới dạng những chuyển động sóng (không liên quan gì đến năm giác quan) để chuyển đổi những chuyển động sóng này thành những hình ảnh.

uy nhiên khi trẻ lớn lên, bắt đầu tiếp xúc với giáo dục nhà trường, những khả năng tự nhiên nơi trẻ sẽ mất dần, nghĩa là thay vì nhà trường tìm cách nuôi dưỡng và phát triển những khả năng sẵn có, đã đưa trẻ vào một hệ thống với nhiều hạn chế, đặc biệt là làm hạn chế khả năng của não phải. Cách thức giảng dạy kéo theo cách thức học tập không thuận theo tự nhiên, làm mất cân bằng giữa hai bán cầu não và do đó làm hạn chế năng lực vốn có của con người.

Theo tôi, giáo dục Việt Nam đã dựa quá nhiều trên các chức năng của não trái mà bỏ qua hoặc không mấy quan tâm đến phần não phải, xem nhẹ các yếu tố thuộc về trực quan, cảm xúc, xem nhẹ giáo dục nghệ thuật, đặc biệt là âm nhạc và hội hoạ. Thế nhưng, thật trớ trêu, bán cầu não trái vốn gắn chặt với nhà trường như vậy có rất ít khả năng ghi nhớ so với não phải. Những gì học sinh nhớ được chủ yếu dựa trên việc lặp đi lặp lại các bài học hay các bài tập.

Theo Bruno Hourst, sở trường của não phải là ghi nhớ, nó mã hoá thông tin bằng cách thức không lời và kết nối thông tin với những cảm xúc và các yếu tố như nhịp điệu, màu sắc, hình dạng, hình ảnh. Đó là quá trình tạo ra những ký ức mà chúng ta lưu giữ trong trí nhớ, thậm chí là khi những ký ức này đã xảy ra từ rất lâu.

Để cải thiện sự mất quân bình nói trên, cần chú ý tạo ra một môi trường phong phú và đa dạng, ở đó cho phép bộ não vận dụng hết khả năng của hai bán cầu; thúc đẩy tiếp cận tổng quát cũng như tiếp cận phân tích; ưu tiên các yếu tố mang tính cảm xúc, có hình ảnh để ghi nhớ tốt hơn. Âm nhạc có thể giúp sự kết nối khả năng của hai bán cầu và kích thích não phải phát huy vai trò.Tạp chí Nature đã công bố những kết quả từ một thí nghiệm của Mỹ được tiến hành tại trung tâm thần kinh học phục vụ việc học và ghi nhớ. Người ta đã cho 36 học sinh trung học cơ sở làm các bài kiểm tra về trí nhớ, trước rồi sau một số hoạt động, trong đó cho nghe một bản Sonate của Mozart. Kết quả, tất cả học sinh sau khi nghe nhạc của Mozart đều có kết quả tăng lên đến 9 điểm. Các nhà nghiên cứu đã đánh giá rằng, âm nhạc cổ điển có thể cải thiện khả năng lập luận trừu tượng (đặc biệt là khả năng vận dụng vào toán học hoặc môn cờ vua) bằng cách củng cố sự kết nối giữa các phần khác nhau của não. Họ cho rằng chìa khoá của kết quả này chính là tính phức hợp của bản nhạc.

Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy, trường học nào tạo không gian và điều kiện cho các môn nghệ thuật như hội hoạ, âm nhạc phát triển, học sinh luôn đạt được kết quả tốt.



Giảng dạy sử trong chương trình lớp 6 ở Pháp

Nguyễn Khánh Trung

Cuộc thi tốt nghiệp phổ thông trung học cơ sở năm 2018 vừa kết thúc và khi điểm số được công bố, không ai có thể làm ngơ trước con số: 83% bài thi môn sử dưới điểm trung bình, trong đó có gần 50% bài bị điểm liệt.


TS Trần Khánh Trung, giám đốc trung tâm Emile Việt Education (EVE) tại Sài Gòn, đã gởi đến báo TGTT bài viết về giảng dạy sử ở chương trình lớp 6 của Pháp, như một ý kiến tham khảo cần thiết cho môn này ở Việt Nam.

Môn sử ở Pháp được giảng dạy thế nào?

Thử tìm hiểu điều này thông qua cuốn sách giáo khoa lớp 6 “tích hợp” gồm ba môn: lịch sử – địa lý – giáo dục đạo đức và công dân. Xuyên suốt các bài học trong sách giáo khoa có năm hoạt động: tranh luận, đóng vai, thuyết trình, biện luận và thực hiện những chọn lựa và nghiên cứu.

Từ khoá chính trong từng trang sách là “competence” (năng lực, kỹ năng). Các kỹ năng được chia thành bốn mức khi đánh giá học sinh: mức 1 là chưa đạt; mức 2 là còn yếu; mức 3 là thoả mãn và mức 4 là đạt.

Nhiệm vụ của mỗi phần, mỗi chương là để trang bị cho các học sinh một số kỹ năng cụ thể, đó là các kỹ năng về làm việc nhóm, các kỹ năng của nhà nghiên cứu như biết đặt câu hỏi, thiết lập các giả thuyết, kiểm chứng, biện luận, khai thác các tài liệu, xác định thời gian, không gian, viết, trình bày…

Phần cuối của mỗi chương luôn có phần bài tập và phần để các học sinh tự đánh giá một số kỹ năng của bản thân. Trong các phần luôn có hộp thông tin (box) quan trọng dẫn các em đến các trang web để tải một phần mềm miễn phí; nhằm sử dụng vào việc học hoặc để làm bài tập, xem một phim tài liệu, một bộ sưu tập của bảo tàng số…

Như vậy có thể thấy, học sinh không học thuộc lòng các kiến thức có sẵn mà học để có năng lực, học phương pháp, học cách tư duy và thực hành của nhà sử học.

Nội dung của chương trình

Chương trình lịch sử lớp 6 ở Pháp có ba chủ đề lớn.Ở đây, tôi chỉ trình bày chương 1 của chủ đề 1 như một ví dụ để minh hoạ sâu hơn những gì đã trình bày ở trên.

Chủ đề 1 “Lịch sử dài của nhân loại và di cư” được chia thành ba chương. Chương 1 là “Khởi đầu của loài người”. Trang đầu tiên trước khi đi vào nội dung gồm các nội dung: ba câu hỏi trắc nghiệm và những câu trả lời để xem những gì học sinh đã biết trước khi đi vào nội dung chương này; nêu rõ mục tiêu “trong chương này, sẽ: xác định những giai đoạn chính của thời tiền sử, mô tả lối sống của người tiền sử và giải thích con người đã cư trú trên hành tinh thế nào”.

Ngoài ra, còn có những yêu cầu: chỉ dẫn học sinh truy cập web để xem video tài liệu Sự phiêu lưu của những con người đầu tiên, yêu cầu học sinh theo dõi nắm bắt những phát hiện của các nhà nghiên cứu sinh học cổ và khám phá những sưu tầm của bảo tàng mới về con người; trình bày những kỹ năng mà học sinh sẽ phải đạt được thông qua việc học bài này: kỹ năng 1: biết và sử dụng được các thuật ngữ thích hợp; kỹ năng 2: sử dụng được một tài liệu; kỹ năng 3: làm việc nhóm và kỹ năng 4: biết tự định vị trong thời gian. Mỗi phần trong nội dung của chương sẽ gắn với một kỹ năng cụ thể.

Học sinh làm gì?

Trong box đầu chương, học sinh được yêu cầu nhập vai như thành viên của nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra bộ xương hoá thạch năm 1984 có biệt danh là “Thiếu niên Turkana”.Nhiệm vụ của học sinh là làm việc nhóm để nghiên cứu và trình bày bằng một bài viết.

Để giúp học sinh làm điều này, trong một box khác, các tác giả sách giáo khoa đem ra những câu hỏi cụ thể chẳng hạn: cái gì? ở đâu? trong tình trạng nào? trong lớp đất nào? tương ứng với thời kỳ nào? Học sinh có thể tìm các thông tin trong các mục sau đó như giới thiệu địa điểm khai quật phát hiện ra bộ xương, so sánh với các bộ xương người tiền sử khác, các công cụ lao động đầu tiên của người tiền sử.

Sách cũng không quên hướng dẫn các học sinh tải phần mềm để làm cho bài viết đẹp hơn với yêu cầu trình bày ngắn gọn bằng ngôn ngữ của lớp 6.

Thông qua thực hành trong chương này, học sinh học được các năng lực: làm việc nhóm, tự đặt các câu hỏi và các giả thuyết, kiểm chứng, biện luận. Đó là những kỹ năng, năng lực của nhà sử học, nhà nghiên cứu!

Dạy sử là để tập cho học sinh các kỹ năng và thói quen của nhà sử học: biết nghiên cứu, biết đọc các dữ liệu lịch sử, biết phản biện và tư duy độc lập, biết trình bày bằng văn bản và bằng lời các vấn đề lịch sử. Không phải ngẫu nhiên mà người trẻ tại các nước phát triển nói chung và Pháp thường tỏ ra tự chủ, có chính kiến, biết làm việc nhóm và hợp tác với người khác một cách hiệu quả. Trong khoa học, họ có nhiều phát minh, nhiều công bố quốc tế, ít đạo văn… vì tất cả những điều này đã được luyện tập rất kỹ trong các môn học trong chương trình giáo dục phổ thông.

Nguồn: Thế giới Hội nhập: https://thegioihoinhap.vn/van-hoa-giao-duc/giao-duc/giang-day-su-trong-chuong-trinh-lop-6-o-phap/

Nhìn về "sản phẩm" giáo dục hôm nay

Nguyễn Khánh Trung

Bằng kinh nghiệm của mình, Chuyên gia Giáo dục, Tiến sĩ Nguyễn Khánh Trung (Trưởng dự án Giáo dục Emile Việt) cho rằng, bệnh thành tích trong giáo dục, "chạy chọt", gian lận điểm số của phụ huynh đang góp phần đắc lực hủy hoại tương lai của giới trẻ.



Có thể nói, những người làm giáo dục hôm nay phải chịu trách nhiệm với xã hội ngày mai. Những yếu tố chính tác động đến đứa trẻ chủ yếu đến từ chương trình, cách dạy, môi trường sư phạm, gia đình và xã hội xung quanh.

Vì vậy, những người làm giáo dục (bao gồm giáo dục nhà trường và cả giáo dục gia đình) hôm qua phải chịu trách nhiệm về "sản phẩm" giáo dục hôm nay. Đồng thời, những người làm giáo dục hôm nay sẽ phải chịu trách nhiệm với xã hội mai sau.

Cần những con người chất lượng cao

Nhìn lại, hiện trạng giáo dục nước ta hiện nay vẫn còn tồn tại những vấn đề như áp lực học tập, chạy theo thành tích. Cùng với đó, câu chuyện gian lận điểm số trong kỳ thi THPT Quốc gia 2018 ở một số địa phương vốn có căn nguyên từ quá khứ. Nói đúng hơn, câu chuyện buồn ấy có gốc rễ từ văn hóa chứ không đơn giản chỉ là câu chuyện riêng của ngành giáo dục. Bởi vậy, muốn giải quyết tận gốc thực trạng này cần có những giải pháp toàn diện và triệt để, không chỉ điều tra, xử phạt và để đó.

Phần Lan vốn là đất nước có một nền giáo dục tốt hạng nhất thế giới mà chúng ta mong muốn học hỏi. Nhưng sẽ khó đạt được như họ nếu chúng ta không có một môi trường xã hội với những con người tương ứng. Họ không chỉ có một nền giáo dục tốt nhất mà còn có một xã hội minh bạch bậc nhất, có chỉ số lòng tin giữa người với người, giữa người dân và các tổ chức cao nhất…

Chạy để nâng thứ hạng cho con, được gì?

Tất cả những yếu tố đó tạo nền móng vững chắc để họ xây dựng một nền giáo dục phục vụ con người, đặt con trẻ làm trung tâm. Để rồi, từ nền giáo dục ấy lại tạo ra những con người có chất lượng cao, tiếp tục duy trì và phát triển xã hội.

Nhìn lại nền giáo dục nước ta sau sự việc liên quan đến gian lận điểm số cùng với những áp lực học hành mà trẻ đang phải gánh chịu, có một phần trách nhiệm không nhỏ của cha mẹ và giáo viên.

Những người này sẵn sàng "chạy", can thiệp nhằm nâng điểm, nâng thứ hạng cho con em mình. Theo quan điểm của nhiều người, đó cũng là một cách lo cho tương lai của con. Tuy nhiên, theo cá nhân tôi, đó là một kiểu hủy diệt nhân cách của đứa trẻ. Bởi những hành động "dọn chỗ" cho tương lai của con đã không cho con cơ hội để khẳng định mình, để trưởng thành và để tự xây dựng tương lai cũng như đời sống của riêng mình.

Bằng hành động "dọn đường", định đoạt tương lai của con, phụ huynh không cho con thực hiện những lựa chọn của mình. Nói đúng hơn, họ không quan tâm đến sự khác biệt nơi con. Họ cũng không nhìn ra những thế mạnh và điểm yếu ở con. Chúng ta quen áp đặt con lập trình theo những gì mình muốn trong khi con cái có mong muốn khác cha mẹ mình.

Vì vậy, việc áp đặt con, nhân danh tình yêu thương để "bó khuôn" con vô tình đánh cắp đi sự trưởng thành, cũng như tương lai của đứa trẻ. Nhưng có một sự thật, thực trạng này không phải cha mẹ nào cũng nhận ra hoặc cũng hiểu.

Nhiều người muốn con đạt điểm cao với bất cứ giá nào để có được "tấm vé" ưu tiên trên đường thăng quan tiến chức về sau. Nhưng họ không hiểu hay nghĩ đến chuyện phải giáo dục con như ý nghĩa của hai từ giáo dục vốn có. Ngược lại, họ đang thực hiện những hành vi phản giáo dục nhưng vẫn "cố đấm ăn xôi". Vì vậy, việc "chạy chọt", gian lận điểm số của một số phụ huynh đang góp phần đắc lực hủy hoại tương lai của giới trẻ.

Bởi lẽ, giáo dục là công việc tạo ra một môi trường lành mạnh, thích hợp tại trường và tại nhà. Giáo dục cũng là tìm cách trợ giúp con trẻ phát triển các năng lực về mặt trí tuệ, tinh thần đạo đức và thể chất. Qua đó, trẻ phát triển toàn diện, có năng lực tự kiến tạo đời sống của bản thân và góp phần xây dựng, thúc đẩy xã hội phát triển.

Có thể nói, phát triển nhân cách là một tiến trình, một con đường dài. Nếu người lớn bố trí trên con đường đó sự tử tế, hẳn con cái họ sẽ có cơ hội trưởng thành và trở thành những con người tử tế. Ngược lại, nếu người lớn tạo ra trên con đường đó đầy những mánh khóe, không ngay thẳng, giành giật nhau, bon chen, trẻ sẽ được gì? Chắc chắn điều này tựa như những "trái độc", người gặp nguy hiểm trước hết là chính con em họ.Giáo dục liên quan đến nhân cách con người, liên quan đến tập tính tốt, xấu của cả xã hội. Giáo dục không phải là nhồi nhét kiến thức, càng không phải những con điểm, nhất là những điểm số bất chính.

Những đứa trẻ ấy sẽ nhận được gì khi không học mà cũng đậu cao? Trẻ khi rớt tốt nghiệp mà vẫn thành thủ khoa, các cháu rồi sẽ thành thế nào khi ra đời với cái đầu rỗng? Khi không kiến thức, không kỹ năng, không trung thực, không tự chủ có khiến họ trở nên thành công và hạnh phúc? Đó không phải là cách giáo dục con cháu thành “người”.

Tuy nhiên, không ít bậc phụ huynh sẵn sàng bất chấp tất cả, chỉ cốt con em mình có những điểm số cao vô nghĩa, nhằm ngồi vào những vị trí được bố trí sẵn. Ngẫm lại, sẽ thật đáng sợ, đáng giật mình nếu những người với cái đầu rỗng sẽ lấy cắp cơ hội của người khác.

                               


Nguồn: Báo Thế giới và Việt Nam: https://baoquocte.vn/nhin-ve-san-pham-giao-duc-hom-nay-78739.html?fbclid=IwAR09K4pIyzRt9WOih3W3KxDCssd2oH13rWa5krhN-rsXEAG89bFD0PLNnnA

Friday, April 20, 2018

Xin giới thiệu 2 chuyên đề của TS. Nguyễn Thị Ngọc Dung


Emile Việt Education

Có lẽ ai trong chúng ta cũng mong con cái trưởng thành, có khả năng ra quyết định, có khả năng phân định đâu là đúng đâu là sai trước mọi điều, đặc biệt có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội phải không?
Rồi nữa, làm thế nào để dạy con kỹ năng thiết lập mục tiêu, thiết lập và thực hiện các kế hoạch đề ra trong cuộc sống và trong việc học tập ?
Bạn đã biết cách, biết phương pháp dạy con đạt đến những điều quan trọng nói trên chưa?
TS. Nguyễn Thị Ngọc Dung sẽ giúp bạn giải quyết những vấn đề nói trên thông qua hai chuyên đề sau:
• Chuyên đề 7: “Dạy con các kỹ năng phản biện và phản hồi (khả năng tự phán đoán, phân định đúng sai và đem ra những quyết định và phản hồi trước các tình huống)” sẽ diễn ra vào chiều thứ Bảy ngày 21/04/2018
• Chuyên đề 8: “Phương pháp dạy con các kỹ năng ấn định các mục tiêu, thiết lập và thực hiện các kế hoạch” sẽ diễn ra vào chiều Chủ nhật ngày 22/04/2018
Bạn có thể đăng ký theo từng chuyên đề riêng biệt. Dưới đây là các đường link đăng ký:
• Chuyên đề 7: https://goo.gl/forms/IOb2uEu9aGWORJOa2
• Chuyên đề 8: https://goo.gl/forms/XnvzSvdd1aE1pTMF2
Còn đây là đường link thông tin chi tiết của toàn bộ chương trình đào tạo : https://bit.ly/2pYRggu
Văn hóa gia đình và phong cách giáo dục của cha mẹ là nền tảng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển, sự trưởng thành cũng như cách thức tư duy, khả năng làm chủ cảm xúc của con trẻ.
Hãy dạy con bước đi trên đội chân của mình, đó là nhân phẩm!
Hãy thương con đúng cách và đầu tư cho con đúng phương pháp nhé bạn.
Nguồn: https://www.facebook.com/emileviet/?hc_ref=ARSN7xH_s11BzQXLbOy-fe1m5xq-_fSSemkezEqd1R7bVXG1w25JLBv1Uy-Gm5ad6f0&fref=nf

Monday, March 13, 2017

Vị trí của người thầy trong giáo dục hiện đại

TS.NGUYỄN KHÁNH TRUNG

 
(GDVN) - Hình ảnh người giáo viên thường thấy hiện nay là cấp trên bảo sao làm vậy, ngại sáng tạo, ngại làm khác vì sợ trái quy định, sợ gặp rắc rối với đoàn thanh tra.

TS: Thời gian qua, thông qua các phương tiện truyền thông, chúng ta thấy có nhiều tín hiệu tích cực được phát ra từ Tổng chủ biên chương trình giáo dục phổ thông mới – GS.Nguyễn Minh Thuyết.
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng, trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, công cuộc đổi mới sẽ là hết sức khó khăn bởi những lực cản đến từ một cỗ máy đồ sộ đã vận hành trong nhiều thập kỷ qua mà quán tính của nó đang rất mạnh, có thể cuốn phăng mọi nỗ lực muốn làm chuyển hướng quay của nó.
Vậy làm sao để công cuộc đổi mới đạt được kết quả như mong muốn? Hôm nay, trong bài viết này, TS.Nguyễn Khánh Trung (công tác tại Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục – IRED) chỉ ra yếu tố đó. 
Tòa soạn trân trọng giới thiệu cùng độc giả.

Sunday, March 12, 2017

Qu'est-ce qui rend l'enfant agressif ?

Publié le 

Loin de la réaction impulsive ou non préméditée, la violence chez les enfants s’explique en grande partie par l’éducation qu’inculquent les parents.
Un garçon de 2 ans joue au milieu d’autres enfants dans une crèche. Soudain, il aperçoit dans les mains d’un petit camarade une voiture de pompiers qui lui plaît bien. Comme celui-ci refuse de la lui donner, il le mord et la récupère aussitôt… Un enfant de 6 ans au CP : il s’aperçoit que son voisin de table lui a pris un de ses stylos. Sans chercher plus loin, il lui envoie un coup de poing et reprend son bien. Deux réactions violentes à deux âges différents. Quelle différence ? Si à 2 ans, le fait d’user de sa force pour récupérer un objet convoité est une attitude tout à fait commune, à 6 ans, ça l’est beaucoup moins.

Une pulsion pour survivre

« Le cerveau humain est d’abord celui d’un animal avant qu’il ne soit éduqué pour devenir un cerveau pensant », écrivent les neuroscientifiques François Math et Didier Desor (1). Chez les primates, l’agressivité a avant tout une fonction adaptative. Elle permet de protéger son territoire, de se procurer de la nourriture, d’obtenir des partenaires sexuels pour les mâles, de protéger sa descendance, en bref d’assurer sa survie. Dans le même esprit, le petit de 2 ans qui mord pour obtenir ce qu’il veut, qui pousse l’autre pour prendre sa place, ne cherche en quelque sorte qu’à protéger son territoire ou à se procurer des ressources « essentielles à sa survie ». À l’âge de 17 mois, 80 % des enfants commettent des agressions physiques. Puis, en grandissant, ils apprennent à maîtriser leurs pulsions, à tolérer leurs frustrations et à limiter leurs gestes impulsifs. Tout d’abord, l’enfant va accéder au langage et apprendre à négocier, mais aussi à parler de ses frustrations au lieu d’uniquement les vivre. L’agressivité s’exprime alors moins sur le versant physique, mais plus par la parole. Petit à petit, l’enfant intègre les règles de la vie sociale. Son éducation lui permettra d’apprendre d’autres stratégies que la manière forte pour résoudre les conflits auxquels il sera confronté. Mais, parfois, l’enfant vit dans un contexte qui ne lui permet pas de faire ces apprentissages essentiels à la vie en société.