Wednesday, November 4, 2015

"Khi chúng ta lạc đường, càng tiến tới, chúng ta càng rời xa đích đến" (Seneque - La vie heureuse).

Dương Phi Anh

Đây là câu mở đầu trong phần "Dẫn nhập" của cuốn "Giáo dục Việt Nam và Phần Lan" của TS Nguyễn Khánh Trung vừa được NXB Khoa học Xã hội phối hợp với DT Book ấn hành. Sách thuộc "Tủ sách phát triển giáo dục" do Viện nghiên cứu giáo dục IRED tuyển chọn và giới thiệu.
Cuốn "Giáo dục Việt Nam và Phần Lan" là một công trình nghiên cứu khoa học công phu, dày 350 trang, được trình bày theo chuẩn sách khoa học với đầy đủ các mục trình bày về đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và cả các chi tiết nhỏ như chỉ dẫn về viết tắt, các bảng biểu, các chỉ dẫn về thuật ngữ, tên họ (Index).
Chúng tôi đánh giá tác giả thông minh khi chọn phương pháp chính cho công trình này là phương pháp SO SÁNH. So sánh một trường tiểu họ của Phần Lan với một trường tiểu học của Việt Nam ở mọi mặt...Theo tác giả: "Nghiên cứu so sánh trong giáo dục ngày nay phát triển một cách mạnh mẽ thu hút các nhà nghiên cứu cũng như các nhà lãnh đạo trên thế giới, điều đó hoàn toàn không ngẫu nhiên...".
Tác giả cho biết, chọn Phần Lan vì giáo dục phổ thông Phần Lan những năm qua luôn xếp đầu bảng của thế giới. Phần Lan có những điểm tương đồng với VN như cũng bị đô hộ dài hàng trăm năm (bị Thụy Điển cai trị hơn 7 thế kỷ), sau lại rơi vào tay Nga Hoàng hơn 100 năm, lại phải trải qua hai cuộc chiến tàn khốc, thua trận nên phải bồi thường chiến tranh cho đến mãi 1952 mới trả hết nợ. Phần Lan là đất nước có khí hậu khắc nghiệt (luôn trên 40 độ âm) và không hề có tài nguyên khoáng sản, "rừng vàng, biển bạc" như của VN, vậy mà chỉ sau 20 năm ngày độc lập, Phần Lan có thu nhập trên đầu người dân vượt xa nhiều nước phát triển như Anh, công nghiệp nằm trong top 10 nước phát triển nhất thế giới. Đặc biệt là giáo dục thì luôn đứng trong nhóm ba nước đứng đầu.
"Đặt mình bên cạnh quốc gia này, đối diện với sự tụt hậu nói chung và sự non kém về giáo dục của VN nói riêng, chúng ta không thể tiếp tục đổ lỗi cho chiến tranh mặc dù các cuộc chiến đã gây khó khăn rất lớn cho chúng ta. Chúng ta cũng không thể đổ lỗi cho hoàn cảnh khó khăn do thiên tai, địch họa, vì Phần Lan đã và đang có hoàn cảnh thiên nhiên khó khăn, khắc nghiệt hơn chúng ta rất nhiều... Người Phần Lan đã làm gì để thành công và đặc biệt thành công trong giáo dục như thế?". Tác giả Nguyễn Khánh Trung viết.

Qua sáu chương sách từ khảo sát, phân tích, chứng minh xoay quanh năm chủ thể nghiên cứu (actor) then chốt của hệ thống giáo dục (gồm: nhà nước, nhà trường, nhà giáo, gia đình, người học), tác giả đưa ra kết luận:

Với giáo dục Việt Nam: "Nhà nước là chủ thể chỉ đạo toàn bộ mọi khía cạnh, hoạch định mục tiêu ở tầm vĩ mô cho hệ thống giáo dục phổ thông, trong đó giáo dục tiểu học là chặng đầu, đem ra các mục tiêu, kế hoạch hàng năm với từng phong trào, từng chủ trương cụ thể, quy định về mục tiêu của từng môn học, từng bài học thông qua chương trình khung, sách giáo khoa, sách giáo viên; Nhà nước cũng quán xuyến mọi khâu trong việc xây dựng nội dung chương trình giáo dục từ việc ban hành chương trình khung, tổ chức biên soạn và xuất bản bộ sách giáo khoa duy nhất sử dụng trong toàn hệ thống, các loại sách tham khảo cho giáo viên, học sinh; Nhà nước cũng là actor (chủ thể) quy định hình thức tổ chức giảng dạy, các phương pháp sư phạm, cách thức, các tiêu chí về thi cử, kiểm tra đánh giá học sinh qua các hướng dẫn giáo viên, chuẩn kiến thức, kỹ năng, các tài liệu hướng dẫn khác... Nhà nước ra các văn bản hướng dẫn, giao nhiệm vụ cho các cấp quản lý bên dưới...triển khai thực hiện trong từng bài học chi tiết.
Những điều như vậy khác xa với cách làm của nhà nước Phần Lan, nơi chỉ đưa ra tầm nhìn, cách tiếp cận, mục tiêu giáo dục quốc gia về giáo dục cơ bản, ban hành chương trình khung, trong đó chỉ vạch ra những nét cốt lõi về mục tiêu, nội dung giảng dạy, cách đánh giá học sinh. Phần còn lại được phân cho cấp quản lý địa phương mà thực chất là cho các hiệu trường và giáo viên trong nhà trường...
... Hình ảnh nền giáo dục VN nói chung và hình ảnh của Hiệu trưởng, của giáo viên tại VN hiện tại nói riêng chỉ làm công việc tái tạo lại "văn hóa", những gì có sẵn về mặt tri thức, kỹ năng (những gì có sẵn trong chương trình khung và sách giáo khoa, sách giáo viên được trình bày một cách chi tiết) và các giá trị đạo đức cũng được quy định sẵn trong các Điều lệ trường học. Mọi thứ đã được hệ thống hóa trong lộ trình giáo dục phổ thông với một mục tiêu tổng quát là đào tạo "con người VN XHCN", một mô hình đã định nghĩa sẵn theo các giá trị và tư tưởng của các nhà cầm quyền, mà các actor trong trường không có quyền đi ra ngoài trong khi thực hiện giảng dạy. Nhiệm vụ của thầy cô giáo là chu toàn những gì được giao theo kế hoạch. Mọi người có thể gây dấu ấn riêng, tạo uy tín để tiến thân trên đường sự nghiệp trong những chiến lược cá nhân hoặc tập thể thông qua con đường "thi đua, khen thưởng"...
Tại Phần Lan, khi nhà nước chỉ đóng vai trò hướng dẫn dựa trên những điều cốt lõi tổng quát, các actor trong trường học có rất nhiều quyền và tự do. Các trường học tại các vùng khác nhau có thể khác nhau về chương trình giáo dục cụ thể, về sách giáo khoa, về cách chức tổ chức sư phạm và nhân sự vỉ Hiệu trưởng được giao quyền tựa như một chủ doanh nghiệp, có quyền tuyển và sắp xếp người của mình, có quyền tuyển sách giáo khoa để dạy, có quyền quyết định một số môn tự chọn...".

Sự khác biệt đáng suy ngẫm

Hoài Nam

Dân trí: Giáo viên mình có thể phát biểu một đằng nhưng nghĩ một nẻo. Còn ở Phần Lan, có sự đồng nhất rất cao giữa văn bản, kế hoạch và hành động, họ không "sống hai mặt".

Trong quá trình thực hiện dự án “So sánh điển hình về vai trò các chủ thể tại hai trường tiểu học công lập của hai nước Việt Nam và Phần Lan”, TS Nguyễn Khánh Trung (Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục IRED) nhận thấy nhiều sự khác biệt. Điều này được ông chia sẻ tại buổi toạ đàm giới thiệu dự án vừa diễn ra tại TPHCM.

Người phát ngôn của sách giáo khoa?


 Ngân Hà

Cuốn sách Giáo dục Việt Nam và Phần Lan mới xuất bản tháng 5.2015 là nghiên cứu so sánh điển hình về vai trò các chủ thể tại hai trường tiểu học công lập của hai nước của tiến sĩ Nguyễn Khánh Trung. Nó nhận được sự quan tâm của bạn đọc, vì giáo dục hiện nay là vấn đề nóng bỏng. Và như G.J Danton nói: “Sau lương thực, giáo dục là nhu cầu thiết yếu nhất của một dân tộc”.
Ông nói: “Phần Lan quan niệm rằng đất nước của họ không nhiều tài nguyên, khí hậu tương đối khắc nghiệt, quanh năm tuyết rơi. Vì vậy, họ ý thức giáo dục (GD) là thiết chế tạo ra nguồn nhân lực tốt nhất, và với họ, nhân lực quyết định tất cả”.
Ông Trung cho rằng, gần đây mô hình GD Phần Lan nổi tiếng thế giới, vì sự thành công trong GD của họ cũng khiến cho các mô hình khác phải đặt lại vấn đề để thay đổi. Và phương pháp nghiên cứu của ông là so sánh giữa GD Việt Nam và Phần Lan ở cấp tiểu học, để tìm thấy mối tương quan cũng như những điểm mạnh, điểm yếu của GD hai nước.

Friday, October 30, 2015

Canh tân giáo dục bắt đầu từ đâu?

Giới thiệu sách "Giáo dục Việt Nam và Phần Lan" của Giản Tư Trung

Chỉ cần nhìn vào lý tưởng thực sự của một quốc gia và cách thức vận hành của nó thì hoàn toàn có thể biết được tương lai của quốc gia đó. Nếu một quốc gia nhiều năm hòa bình mà vẫn còn quá nghèo và lạc hậu so với thế giới thịnh vượng và văn minh thì nhất định quốc gia đó, hoặc có vấn đề về lý tưởng, hoặc có vấn đề về cách thức vận hành, hoặc có vấn đề cả hai.




Nếu một quốc gia thật sự muốn canh tân thì việc đầu tiên là phải xác định cho được đâu là một xã hội lý tưởng mà quốc gia đó muốn vươn tới và cách thức vận hành xã hội (công nghệ quản trị quốc gia) để hiện thực hóa được lý tưởng này.
Trong một xã hội văn minh luôn có 3 định chế là nhà nước, thị trường và xã hội dân sự. Cách thức vận hành xã hội cũng có nghĩa là cách thức vận hành 3 định chế này và mối quan hệ giữa chúng. Nhà nước nắm quyền lựcchính trị và thường theo đuổi quyền lực, còn thị trường nắm quyền lực kinh tế và thường theo đuổi lợi nhuận, và xã hội dân sự (chủ yếu là các chủ thể phi chính phủ và phi lợi nhuận) sẽ nắm quyền lực văn hóa và thường theo đuổi chân lý, đạo lý. Nếu không phát triển kinh tế thị trường thì không thể có nền kinh tế hùng mạnh và nếu không có xã hội dân sự thì không thể có nền văn hóa tiến bộ. Nhà nước thì quốc gia nào cũng có, nhưng nếu một quốc gia mà thiếu đi kinh tế thị trường hoàn thiện và xã hội dân sự mạnh mẽ thì chắc chắn quốc gia đó không thể thịnh vượng và văn minh.

Sunday, October 25, 2015

Tính khách quan, sự thật xã hội và các tiêu chí chất lượng trong nghiên cứu định tính





NguyỄn KHÁNH TRUNG*


Từ những năm 1980 trở lại đây, giới nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trên thế giới đang quay lại với nghiên cứu định tính như một cách cần thiết để đảm bảo chất lượng nghiên cứu, nhưng tại Việt Nam, loại hình nghiên cứu này chưa được thực hiện nhiều, các tài liệu, đặc biệt các tài liệu về khoa học luận liên quan dường như còn rất thiếu. Trong bối cảnh như vậy, chúng tôi thực hiện bài viết này nhằm góp phần nhỏ của mình vào việc cải thiện tình trạng nghèo nàn này. Bài viết trình bày cách hiểu về khái niệm “tính khách quan”, khái niệm “sự thật xã hội” trong loại hình nghiên cứu định tính, cũng như trình bày các tiêu chí chất lượng và một số kỹ thuật mà nhà nghiên cứu nên áp dụng để đảm bảo chất lượng cho một công trình nghiên cứu định tính.

Nếu vào thập niên 1970, phương pháp nghiên cứu định lượng chiếm vị trí thống soái trong các ngành khoa học xã hội với các kỹ thuật thu thập dữ liệu bằng bản hỏi, thống kê, số hoá, thì từ những năm 1980 trở lại đây, với sự quay lại của khái niệm chủ thể (acteur) trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn (Oberson, 2010), các nhà nghiên cứu có khuynh hướng sử dụng các kỹ thuật của nghiên cứu định tính để tìm hiểu sâu các hiện tượng xã hội trong bối cảnh đặc thù, xem xét các quá trình trong các động thái (dynamique) và phức tạp của chúng (Bru, 2004; Duru-Bellat, 2004, dẫn bởi Paquay, 2006, tr. 14). Chiều hướng này đang trở thành một trào lưu quan trọng đến nỗi đã có nhà nghiên cứu cho rằng: “Ngày nay, người ta không gọi ai đó là ‘nhà nghiên cứu’ khi người này không biết đến các lý thuyết và các kỹ thuật nghiên cứu sâu (approfondie) mà chỉ dừng lại ở những kiểu điều tra thống kê máy móc” (Martinand, 2011).
Tuy nhiên, vấn đề muôn thuở của loại hình nghiên cứu này thường bị phê bình bởi các nhà thực chứng luận (positivisme) là thiếu “tính khách quan”, thiếu tính đại diện, thiếu các quy chuẩn ổn định để đo đạc “sự thật” xã hội (réalité sociale), không thể lặp lại các thí nghiệm để có thể kiểm chứng những điều nhà nghiên cứu tuyên bố, vv. Khái niệm “tính khách quan” là khái niệm trung tâm trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt đối với các nhà nghiên cứu theo chủ nghĩa thực chứng luận. Với họ, nghiên cứu khoa học trên hết phải đảm bảo tính khách quan, Durkheim (1894) yêu cầu nhà nghiên cứu phải xem các hiện tượng xã hội như là những “sự vật xã hội” (chose sociale), nhà nghiên cứu phải trung lập, phải ra khỏi đối tượng nghiên cứu để có thể quan sát và phân tích đối tượng một cách khách quan, giữ thái độ trung lập như nhà vật lý quan sát một hiện tượng tự nhiên.
Thế nhưng thế nào là “tính khách quan” trong khoa học xã hội? Trong nghiên cứu định tính khái niệm này nên được hiểu thế nào? Thế nào là sự thật xã hội? Thế nào là tính đại diện? Nghiên cứu định tính cần những tiêu chí chất lượng nào? Trong bài viết, chúng tôi cố gắng trả lời các câu hỏi này. Những nội dung trả lời sẽ được trình bày vừa là kết quả nghiên cứu tài liệu, vừa là kết quả rút ra từ những trải nghiệm thực tế mà chúng tôi có được nhờ vào việc thực hiện các dự án nghiên cứu.

Tuesday, October 13, 2015

Tại sao người gốc châu Á thành công tại Mỹ?


THU AN
Tại khắp các trường học của nước Mỹ, sinh viên Mỹ gốc Á luôn nằm trong nhóm được điểm cao nhất. Tính trên phạm vi toàn xã hội Mỹ, người Mỹ gốc Á thành công hơn phần đông dân số Mỹ.

Thống kê của các công ty tư vấn tuyển dụng còn cho thấy người Mỹ gốc Á cũng nhận lương cao hơn so với tất cả các nhóm chủng tộc khác, kể cả người Mỹ da trắng. Bài viết mới đây trên New York Times đã đưa ra một số lý giải cho thành công của những người Mỹ gốc châu Á.

Truyền thống hiếu học

Nghiên cứu của tác giả Nicolas Kristof công bố vào năm ngoái cho thấy không nên quá quan tâm đến dư luận xã hội cho rằng người da trắng thường được ưu tiên còn người mang các màu da khác bị phân biệt đối xử nặng nề và phải nhận mức lương thấp hơn.

Những thành công mà người Mỹ gốc Á làm được cho thấy nếu có người thuộc nhóm sắc tộc nào đó bị tụt hậu lại thì vấn đề nằm chính ở bản thân họ chứ không phải do định kiến xã hội.

Cộng đồng người Mỹ gốc Á đến từ nhiều nước khác nhau, trong đó thành công nhất phải kể đến người Hàn Quốc và Trung Quốc. Theo nhận xét của nhiều nhà tuyển dụng, người Á thành công tại Mỹ bởi làm việc cực kỳ chăm chỉ.

Chắc chắn rằng sẽ là sai lầm nếu khẳng định rằng nước Mỹ đã không còn tình trạng phân biệt đối xử, nhưng từ thành công của người Mỹ gốc Á, có thể thấy rằng mọi chuyện đã tốt hơn rất nhiều.

Thành công của người châu Á tại Mỹ, theo phân tích của tác giả Jenifer Lee và Min Zhou, trong nghiên cứu mới đây, là do học vấn tốt. Thông thường, người châu Á có trình độ học vấn trung bình cao hơn cả người Mỹ, họ làm rất nhiều ngành nghề khác nhau, có thể là bác sỹ, nhà nghiên cứu hoặc một số nghề khác cần trình độ cao.

Khi bố mẹ có nghề nghiệp tốt và giàu có thì con cái họ cũng sẽ nhờ điều kiện đó mà phát triển. Thế nhưng tác giả Lee và Zhou chỉ ra rằng con cái của những người châu Á trung lưu ở Mỹ cũng có xu thế học hành rất tốt và thành đạt.

Theo nhiều phân tích, truyền thống hiếu học của người châu Á là một yếu tố quan trọng mang đến thành công cho họ. Điều đó cũng giống như người Do Thái rất thành công bởi có học vấn tốt hơn tất cả các chủng tộc khác trên thế giới.

Tuesday, October 6, 2015

Bộ Giáo dục muốn trẻ thành mẫu người công dân thế nào?

Nguyễn Khánh Trung

Góp ý với Dự thảo Chưởng trình giáo dục phổ thông tổng thể TS Nguyễn Khánh Trung (Viện Nghiên cứu Phát triển giáo dục IRED)cho rằng, dự thảo lần này có nhiều đột phá, xích lại gần hơn với cách làm của các nước có nền giáo dục phát triển. Tuy nhiên còn một vài điểm cần góp ý với nhóm tác giả biên soạn.

Những câu hỏi căn bản
Có ba câu hỏi hết sức quan trọng và căn bản, vì chúng định hướng và ảnh hưởng lên toàn bộ các khâu còn lại, việc thành bại của công cuộc đổi mới giáo dục phụ thuộc vào cách mà các tác giả biên soạn chương trình trả lời những câu hỏi này.
Câu hỏi thứ nhất liên quan đến tầm nhìn, viễn kiến về tương lai của thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng, đó là: Thế giới trong tương lai sẽ như thế nào? Xã hội Việt Nam trong tương lai sẽ như thế nào?

Những điều mà chúng ta đang bàn trong Dự thảo chương trình tổng thể hiện nay là để đào tạo các thế hệ tương lai, liên quan đến chất lượng nguồn nhân lực của xã hội tương lai trong những thập niên sắp tới, nên rất cần một phóng chiếu thể hiện tầm nhìn và triết lý của những người biên soạn. Đối với một kế hoạch cuộc đời của một cá nhân, hay một dự án làm ăn của một công ty, sự thành bại của nó phụ thuộc vào tầm nhìn và viễn kiến của những người chịu trách nhiệm vạch ra dự án, huống hồ đây là một dự án giáo dục quốc gia, có ảnh hưởng đến hàng triệu trẻ em, ảnh hưởng đến tương lai quốc gia, nên việc đem ra và tranh luận về tầm nhìn tương lai là hết sức quan trọng.
Câu hỏi trên liên quan đến câu hỏi căn bản thứ hai: Xã hội tương lai cần mẫu người thế nào? Hay nói rõ hơn, sau những năm tháng ngồi trên ghế nhà trường, từ những lớp mầm non đến lớp 12, Bộ Giáo dục muốn đào tạo các trẻ nhỏ thành mẫu người công dân thế nào? Mẫu người đó phải có những phẩm chất, năng lực và kiến thức gì để có thể bước vào đời một cách vững chãi, sống tốt, và thúc đẩy xã hội phát triển?
Câu hỏi này liên quan đến mục tiêu tổng thể của cả chương trình giáo dục phổ thông, nên nhất thiết phải trả lời nó thật thấu đáo, rõ ràng và thuyết phục. Tôi đã đọc Chương trình cốt lõi quốc gia về Giáo dục cơ bản của Phần Lan năm 2004 (gồm chương trình tổng thể và chương trình các môn học), thì thấy họ dành nhiều dung lượng mô tả một cách khá chi tiết về mẫu người lý tưởng mà họ mong muốn trên mặt tổng quát cũng như cụ thể trong từng môn học và hoạt động học tập, có thể tóm tắt đó là mẫu hình “con người tự do, tự chủ và trách nhiệm”.