Sunday, October 25, 2015

Tính khách quan, sự thật xã hội và các tiêu chí chất lượng trong nghiên cứu định tính





NguyỄn KHÁNH TRUNG*


Từ những năm 1980 trở lại đây, giới nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trên thế giới đang quay lại với nghiên cứu định tính như một cách cần thiết để đảm bảo chất lượng nghiên cứu, nhưng tại Việt Nam, loại hình nghiên cứu này chưa được thực hiện nhiều, các tài liệu, đặc biệt các tài liệu về khoa học luận liên quan dường như còn rất thiếu. Trong bối cảnh như vậy, chúng tôi thực hiện bài viết này nhằm góp phần nhỏ của mình vào việc cải thiện tình trạng nghèo nàn này. Bài viết trình bày cách hiểu về khái niệm “tính khách quan”, khái niệm “sự thật xã hội” trong loại hình nghiên cứu định tính, cũng như trình bày các tiêu chí chất lượng và một số kỹ thuật mà nhà nghiên cứu nên áp dụng để đảm bảo chất lượng cho một công trình nghiên cứu định tính.

Nếu vào thập niên 1970, phương pháp nghiên cứu định lượng chiếm vị trí thống soái trong các ngành khoa học xã hội với các kỹ thuật thu thập dữ liệu bằng bản hỏi, thống kê, số hoá, thì từ những năm 1980 trở lại đây, với sự quay lại của khái niệm chủ thể (acteur) trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn (Oberson, 2010), các nhà nghiên cứu có khuynh hướng sử dụng các kỹ thuật của nghiên cứu định tính để tìm hiểu sâu các hiện tượng xã hội trong bối cảnh đặc thù, xem xét các quá trình trong các động thái (dynamique) và phức tạp của chúng (Bru, 2004; Duru-Bellat, 2004, dẫn bởi Paquay, 2006, tr. 14). Chiều hướng này đang trở thành một trào lưu quan trọng đến nỗi đã có nhà nghiên cứu cho rằng: “Ngày nay, người ta không gọi ai đó là ‘nhà nghiên cứu’ khi người này không biết đến các lý thuyết và các kỹ thuật nghiên cứu sâu (approfondie) mà chỉ dừng lại ở những kiểu điều tra thống kê máy móc” (Martinand, 2011).
Tuy nhiên, vấn đề muôn thuở của loại hình nghiên cứu này thường bị phê bình bởi các nhà thực chứng luận (positivisme) là thiếu “tính khách quan”, thiếu tính đại diện, thiếu các quy chuẩn ổn định để đo đạc “sự thật” xã hội (réalité sociale), không thể lặp lại các thí nghiệm để có thể kiểm chứng những điều nhà nghiên cứu tuyên bố, vv. Khái niệm “tính khách quan” là khái niệm trung tâm trong nghiên cứu khoa học, đặc biệt đối với các nhà nghiên cứu theo chủ nghĩa thực chứng luận. Với họ, nghiên cứu khoa học trên hết phải đảm bảo tính khách quan, Durkheim (1894) yêu cầu nhà nghiên cứu phải xem các hiện tượng xã hội như là những “sự vật xã hội” (chose sociale), nhà nghiên cứu phải trung lập, phải ra khỏi đối tượng nghiên cứu để có thể quan sát và phân tích đối tượng một cách khách quan, giữ thái độ trung lập như nhà vật lý quan sát một hiện tượng tự nhiên.
Thế nhưng thế nào là “tính khách quan” trong khoa học xã hội? Trong nghiên cứu định tính khái niệm này nên được hiểu thế nào? Thế nào là sự thật xã hội? Thế nào là tính đại diện? Nghiên cứu định tính cần những tiêu chí chất lượng nào? Trong bài viết, chúng tôi cố gắng trả lời các câu hỏi này. Những nội dung trả lời sẽ được trình bày vừa là kết quả nghiên cứu tài liệu, vừa là kết quả rút ra từ những trải nghiệm thực tế mà chúng tôi có được nhờ vào việc thực hiện các dự án nghiên cứu.

Tuesday, October 13, 2015

Tại sao người gốc châu Á thành công tại Mỹ?


THU AN
Tại khắp các trường học của nước Mỹ, sinh viên Mỹ gốc Á luôn nằm trong nhóm được điểm cao nhất. Tính trên phạm vi toàn xã hội Mỹ, người Mỹ gốc Á thành công hơn phần đông dân số Mỹ.

Thống kê của các công ty tư vấn tuyển dụng còn cho thấy người Mỹ gốc Á cũng nhận lương cao hơn so với tất cả các nhóm chủng tộc khác, kể cả người Mỹ da trắng. Bài viết mới đây trên New York Times đã đưa ra một số lý giải cho thành công của những người Mỹ gốc châu Á.

Truyền thống hiếu học

Nghiên cứu của tác giả Nicolas Kristof công bố vào năm ngoái cho thấy không nên quá quan tâm đến dư luận xã hội cho rằng người da trắng thường được ưu tiên còn người mang các màu da khác bị phân biệt đối xử nặng nề và phải nhận mức lương thấp hơn.

Những thành công mà người Mỹ gốc Á làm được cho thấy nếu có người thuộc nhóm sắc tộc nào đó bị tụt hậu lại thì vấn đề nằm chính ở bản thân họ chứ không phải do định kiến xã hội.

Cộng đồng người Mỹ gốc Á đến từ nhiều nước khác nhau, trong đó thành công nhất phải kể đến người Hàn Quốc và Trung Quốc. Theo nhận xét của nhiều nhà tuyển dụng, người Á thành công tại Mỹ bởi làm việc cực kỳ chăm chỉ.

Chắc chắn rằng sẽ là sai lầm nếu khẳng định rằng nước Mỹ đã không còn tình trạng phân biệt đối xử, nhưng từ thành công của người Mỹ gốc Á, có thể thấy rằng mọi chuyện đã tốt hơn rất nhiều.

Thành công của người châu Á tại Mỹ, theo phân tích của tác giả Jenifer Lee và Min Zhou, trong nghiên cứu mới đây, là do học vấn tốt. Thông thường, người châu Á có trình độ học vấn trung bình cao hơn cả người Mỹ, họ làm rất nhiều ngành nghề khác nhau, có thể là bác sỹ, nhà nghiên cứu hoặc một số nghề khác cần trình độ cao.

Khi bố mẹ có nghề nghiệp tốt và giàu có thì con cái họ cũng sẽ nhờ điều kiện đó mà phát triển. Thế nhưng tác giả Lee và Zhou chỉ ra rằng con cái của những người châu Á trung lưu ở Mỹ cũng có xu thế học hành rất tốt và thành đạt.

Theo nhiều phân tích, truyền thống hiếu học của người châu Á là một yếu tố quan trọng mang đến thành công cho họ. Điều đó cũng giống như người Do Thái rất thành công bởi có học vấn tốt hơn tất cả các chủng tộc khác trên thế giới.

Tuesday, October 6, 2015

Bộ Giáo dục muốn trẻ thành mẫu người công dân thế nào?

Nguyễn Khánh Trung

Góp ý với Dự thảo Chưởng trình giáo dục phổ thông tổng thể TS Nguyễn Khánh Trung (Viện Nghiên cứu Phát triển giáo dục IRED)cho rằng, dự thảo lần này có nhiều đột phá, xích lại gần hơn với cách làm của các nước có nền giáo dục phát triển. Tuy nhiên còn một vài điểm cần góp ý với nhóm tác giả biên soạn.

Những câu hỏi căn bản
Có ba câu hỏi hết sức quan trọng và căn bản, vì chúng định hướng và ảnh hưởng lên toàn bộ các khâu còn lại, việc thành bại của công cuộc đổi mới giáo dục phụ thuộc vào cách mà các tác giả biên soạn chương trình trả lời những câu hỏi này.
Câu hỏi thứ nhất liên quan đến tầm nhìn, viễn kiến về tương lai của thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng, đó là: Thế giới trong tương lai sẽ như thế nào? Xã hội Việt Nam trong tương lai sẽ như thế nào?

Những điều mà chúng ta đang bàn trong Dự thảo chương trình tổng thể hiện nay là để đào tạo các thế hệ tương lai, liên quan đến chất lượng nguồn nhân lực của xã hội tương lai trong những thập niên sắp tới, nên rất cần một phóng chiếu thể hiện tầm nhìn và triết lý của những người biên soạn. Đối với một kế hoạch cuộc đời của một cá nhân, hay một dự án làm ăn của một công ty, sự thành bại của nó phụ thuộc vào tầm nhìn và viễn kiến của những người chịu trách nhiệm vạch ra dự án, huống hồ đây là một dự án giáo dục quốc gia, có ảnh hưởng đến hàng triệu trẻ em, ảnh hưởng đến tương lai quốc gia, nên việc đem ra và tranh luận về tầm nhìn tương lai là hết sức quan trọng.
Câu hỏi trên liên quan đến câu hỏi căn bản thứ hai: Xã hội tương lai cần mẫu người thế nào? Hay nói rõ hơn, sau những năm tháng ngồi trên ghế nhà trường, từ những lớp mầm non đến lớp 12, Bộ Giáo dục muốn đào tạo các trẻ nhỏ thành mẫu người công dân thế nào? Mẫu người đó phải có những phẩm chất, năng lực và kiến thức gì để có thể bước vào đời một cách vững chãi, sống tốt, và thúc đẩy xã hội phát triển?
Câu hỏi này liên quan đến mục tiêu tổng thể của cả chương trình giáo dục phổ thông, nên nhất thiết phải trả lời nó thật thấu đáo, rõ ràng và thuyết phục. Tôi đã đọc Chương trình cốt lõi quốc gia về Giáo dục cơ bản của Phần Lan năm 2004 (gồm chương trình tổng thể và chương trình các môn học), thì thấy họ dành nhiều dung lượng mô tả một cách khá chi tiết về mẫu người lý tưởng mà họ mong muốn trên mặt tổng quát cũng như cụ thể trong từng môn học và hoạt động học tập, có thể tóm tắt đó là mẫu hình “con người tự do, tự chủ và trách nhiệm”.

Monday, October 5, 2015

Cha mẹ Pháp tự hào điều gì về con cái?


  Nguyễn Khánh Trung

05/10/2015 22:00 GMT+7
TTO - Trong khuôn khổ một dự án nghiên cứu của Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục (IRED), chúng tôi phỏng vấn một số phụ huynh Pháp để tìm hiểu về nhận thức, quan niệm về mục tiêu và cách thức giáo dục con trẻ, thì thấy rằng ưu tiên hàng đầu của họ là giáo dục sự tự chủ cho con.
 
Họ giáo dục con tự chủ trong cách ăn nết ở hằng ngày, trong các mối quan hệ với người khác, tự chủ trong học tập, tư duy và phán đoán, tự chủ trong đời sống tinh thần và cả về tài chính... Trong bài viết ngắn này, chúng tôi chỉ đề cập đến khía cạnh giáo dục tự chủ về tài chính và quan niệm của họ về tương lai của con cái.

Friday, October 2, 2015

3.000 USD một suất “chạy” trường


  • Hạ Anh


 - Tham nhũng tuyển sinh phổ biến ngay từ cấp học ban đầu, với chi phí hối lộ 3.000 USD để được vào một trường tiểu học danh tiếng và khoảng 300 - 800 USD cho một suất vào trường "thường thường bậc trung".
Mức phí 3.000 USD được so sánh "cao hơn thu nhập bình quân đầu người" của Việt Nam hiện nay.
Đây là thông tin vừa được đưa ra trong khảo sát về "tham nhũng trong giáo dục phổ thông" của nhóm cán bộ tổ chức Hướng Tới Minh Bạch tại Việt Nam.
'Tuy nhiên, tiền không thôi chưa đủ"- bản khảo sát lưu ý.
“Việc khoảng 30% phụ huynh tìm cách xin cho con vào học ở trường "điểm" trái tuyến dẫn tới sự hình thành một hệ thống ngầm có liên quan tới những người môi giới thứ ba xúc tiến cho quá trình này”.
Nhóm nghiên cứu chỉ ra nguyên nhân đầu tiên của tình trạng "chạy" trường là do nhu cầu lớn. Kết quả khảo sát cho thấy, việc "chạy" trường được nhiều người chấp nhận. Có 67% phụ huynh coi chuyện này là bình thường.

Monday, September 21, 2015

TỪ KẺ SĨ THỜI XƯA ĐẾN TRÍ THỨC NGÀY NAY

Long Biên
tên thật là Huỳnh Cao Trí [1931(?) – 1995]

Trong bài nầy, chúng ta thử tìm hiểu những đặc tính của kẻ sĩ thời xưa và trí thức ngày nay.
Để tránh lạm dụng danh từ, chúng ta cần định nghĩa một cách rõ ràng hơn từ trước đến giờ hai danh từ trên mà người ta thường dùng. Danh từ “trí thức” hay được xem như là tương đương hoặc dịch nghĩa của những danh từ Tây Âu như “intelligentsia”, “intellectual”, “travailleur intellectual”, hoặc “élite”… mà ra, còn “kẻ sĩ” hay “nhà nho” thì được nguời Âu dịch là “lettré”.
Từ đó, người ta thường dùng danh từ “trí thức”, hoặc “kẻ sĩ”, “nhà nho” theo dịch nghĩa những danh từ của người Tây phương hơn là theo đúng nghĩa căn bản của nó ở Đông phương. Vậy nên việc minh định ý nghĩa của danh từ không phải là không bổ ích. Vẫn biết rằng phương pháp chiết tự chưa chắc hẳn sẽ đem 1ại cho ta một cái nhìn toàn diện về một khái niệm, vì ngôn ngữ, cũng như mọi vật trên đời, đều có sanh, có lớn, có biến chuyển, có diệt: nội dung của danh từ cũng vì vậy mà thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên, việc phân tích căn tự sẽ giúp chúng ta hiểu rõ nguồn gốc và ý nghĩa căn bản của danh từ mà chúng ta dùng.

Wednesday, June 24, 2015

"Biết mấy dòng thơm mở giữa đường..." *





Bùi Văn Nam Sơn


Theo Heidegger, trong "Bản chất của Chân lý" (1931-32), ta vốn sống "trong thế giới", không hề có sự phân ly, cô lập giữa đầu óc và thực tại, và không bao giờ "nhìn thấy" thế giới hoàn toàn đúng hoặc hoàn toàn sai cả. Đúng hơn nên nói: con người "khai mở" chân lý từ nhiều viễn tượng, gồm nhiều mức độ thấu hiểu khác nhau, chen lẫn ánh sáng lẫn bóng tối. Sự khai mở ấy là vô tận và thực tại là phong phú đến khôn dò.
Trong một giờ học, triết gia Martin Heidegger (1889-1976) đặt câu hỏi: nếu giả thử một người thời nguyên thủy bước vào lớp học của chúng ta ngày nay, người ấy sẽ "nhìn" và "thấy" những gì? Chắc hẳn người ấy sẽ "nhìn" như chúng ta thôi: bàn ghế, bảng đen, sách vở, giấy bút... Nhưng sẽ "thấy" khác! Bàn và bảng đen có thể là những tấm khiên che rất tốt khi săn thú, ghế là vũ khí, sách vở, giấy bút là những vật lạ lùng chưa biết để làm gì, và nếu có quạt và đèn, chúng có thể là những gì thần linh, đáng để thờ phượng! Về một phương diện, người ấy "sai", xét theo cái "thấy" của chúng ta. Nhưng thật ra, người ấy chỉ "thấy" khác, bởi mọi sự vật xuất hiện ra đâu phải là những tri giác rời rạc, vô nghĩa, trái lại, luôn kết thành một mạng lưới ý nghĩa theo "nhãn quan", trong "thế giới cuộc sống", của mỗi người. Người nào chưa bao giờ nhìn xe hơi, máy bay, sẽ thấy chúng bằng con mắt khác, có khi rất mới mẻ, độc đáo, khác với những người đã quá quen thuộc, theo lối mòn. Ai không tin, xin cứ đến với các thi sĩ, như Cao Bá Quát "thấy" dòng sông Hương: "Trường giang như kiếm lập thanh thiên" hay Lưu Trọng Lư "thấy" ngược lại: "Mắt em là một dòng sông"!

Từ cách hiểu khác về "chân lý"
Quan niệm thông thường của ta về chân lý là sự trùng hợp giữa đầu óc của ta và thực tại. Theo mô hình này, đầu óc một đàng, thực tại một nẻo, vấn đề là phải làm cho cả hai đối ứng với nhau. Nhưng, theo Heidegger, trong "Bản chất của Chân lý" (1931-32), ta vốn sống "trong thế giới", không hề có sự phân ly, cô lập giữa đầu óc và thực tại, và không bao giờ "nhìn thấy" thế giới hoàn toàn đúng hoặc hoàn toàn sai cả. Đúng hơn nên nói: con người "khai mở" chân lý từ nhiều viễn tượng, gồm nhiều mức độ thấu hiểu khác nhau, chen lẫn ánh sáng lẫn bóng tối. Sự khai mở ấy là vô tận và thực tại là phong phú đến khôn dò.
Trong thực tế, ta không nhìn thấy một mớ hỗn mang, mà nhìn thấy cây cối, nhà cửa, sông núi, trăng sao, tức luôn "thấy" cái gì đó "như là" cái gì đó. Chính cái cấu trúc "như là" ấy qui định nhãn quan của ta, vừa cho thấy năng lực diễn giải của ta về thế giới (điều kiện thiết yếu để sống còn), vừa cho thấy sự hữu hạn của mọi tầm nhìn. Nhưng dù sao, để diễn giải, phải có một không gian mở. Đất đá vô tri không biết mình là ai. Thú vật không biết đặt câu hỏi "tại sao" vì không vươn lên khỏi được cái trước mắt. Ta sở dĩ nhận thức được sự vật theo một cách nào đó là nhờ ở trong không gian mở cho sự gặp gỡ của đôi bên. Đúng hay sai, phong phú hay nghèo nàn, sâu sắc hay hời hợt tùy thuộc vào sự mở ngỏ này. Vì thế, sự mở ngỏ xứng đáng được gọi là bản chất của chân lý theo nghĩa chặt chẽ nhất. Vì sự mở ngỏ đòi hỏi sự tự do, nên cũng có thể nói bản chất của chân lý là tự do. Tự do có nghĩa là mở lòng ra đón nhận sự khai mở của thực tại. Hay nói cách khác, bản chất của chân lý là hãy để cho thực tại, cho sự vật có thể xuất hiện ra cho ta đúng với thực chất của chúng, mà không qui giản chúng một cách thô bạo thành sự méo mó, dị dạng, dù việc này không dễ dàng tránh khỏi.
Với cách nói có vẻ ngược đời, Heidegger cho rằng bản chất của chân lý thật ra không phải là chuyện của con người, mà của chính bản chất. Bản chất của thực tại tự xuất hiện ra, vừa khai mở, vừa giấu mình, khiến ta phải tập làm quen với sự tương tác giữa ánh sáng và bóng tối, giữa vùng được khai quang và vùng bị che phủ. Tư duy như thế sẽ không chỉ thường xuyên mang lại cho ta những khái niệm, hình ảnh mới mẻ, mà còn thay đổi quan hệ của ta với thực tại. Thực tại, mỗi lần xuất hiện hay "khai mở" cho ta, là một "sự biến" khiến ta bỡ ngỡ, kinh ngạc như mới gặp lần đầu (trong ví dụ về người nguyên thủy bước vào lớp học). Cũng là một sự "tương ứng", nhưng không tĩnh tại như cách nhìn truyền thống, mà như một sự dọn mình từ cả hai phía để sẵn sàng trao và nhận thực tại như một quà tặng ân cần (như sông Hương chỉ "ban tặng" thanh trường kiếm cho người có đủ khí độ là Cao Bá Quát). Lần đầu tiên, bằng lối chơi chữ tế nhị dựa vào sự gần gũi ngữ âm giữa hai động từ trong ngôn ngữ Âu châu, Heidegger đồng nhất "suy tư" (denken/thinking) với sự "biết ơn" (danken/thanking)!
Một quan niệm như thế không thể không ảnh hưởng sâu đậm đến tư duy giáo dục độc đáo của Heidegger.