Monday, March 30, 2015

Người gác cổng thiên đàng


Bùi Văn Nam Sơn
 
"Những sự khác biệt mà không thật sự tạo nên được những sự khác biệt thì không phải là những sự khác biệt"! Đó có lẽ là hạt nhân của triết thuyết dụng hành Mỹ, xem nguồn gốc của mọi việc là ở trong hành động, hướng đến kết quả của hành động và mời gọi hành động.
Vì thế, triết thuyết dụng hành không tra hỏi về những "sự thiện tối cao" hay những nguyên lý phổ quát, mà về sự khả biến của thế giới, về tính chất diễn trình của nó. Thế giới là "đề án", là "thử nghiệm", nên chìa khóa của sự tiến bộ không nằm trong quá khứ hay trong các giá trị cao xa như thói quen của triết học, mà trong việc thẩm định thực trạng. Nếu tương lai đặt nền móng trong hiện tại và con người có thể tạo nên cái mới bằng tư duy sáng tạo, thì con người cũng tự gánh chịu trách nhiệm, bởi phải tự mình cân nhắc trước những hậu quả của hành động. Chưa bàn đến lời phê bình có thể có đối với thuyết dụng hành: hành động của con người, kỳ cùng, có hướng theo những giá trị bất biến nào không, ta tập trung vào hai câu hỏi sau cùng trong triết thuyết giáo dục-hành động của John Dewey: bản chất của phương pháp và vai trò của nhà trường trong sự tiến bộ của xã hội.

BẢN CHẤT CỦA PHƯƠNG PHÁP


Dewey theo thuyết dụng hành, (thậm chí ông còn gọi là "thuyết công cụ"), vì thế, với ông, thế giới dựa trên kinh nghiệm và con người chỉ có thể học hỏi nếu biết nối kết kinh nghiệm với quá khứ và tương lai. Công thức nổi tiếng của ông: "giáo dục là kinh nghiệm liên tục được tái tạo". Vậy, kinh nghiệm là gì? Ông trả lời: đó là tiến trình tuần hoàn liên tục giữa hành động của ta và thế giới chung quanh. Một khi vòng tuần hoàn này gặp rắc rối, bị tắt nghẽn và không thể giải quyết bằng thói quen được nữa, ta gặp phải "vấn đề". Bấy giờ tình huống buộc ta phải suy nghĩ và tiến hành "có phương pháp". Phần đóng góp của tư duy phương pháp càng lớn, chất lượng giáo dục của kinh nghiệm càng cao. Để kinh nghiệm có thể trở thành "kinh nghiệm giáo dục", ta cần phân biệt hai loại kinh nghiệm: kinh nghiệm cấp một, bằng "thử và sai"; kinh nghiệm cấp hai, như là hệ thống và khoa học. Chỉ có kinh nghiệm cấp hai này mới có giá trị trong giáo dục. Ở cấp hai này, ta phải trải qua "toàn bộ hành trình tư duy" gồm năm bước:

-     nhận diện tình huống như là "có vấn đề";
-     làm rõ tình huống bằng cách xác định vấn đề và phác họa một kế hoạch.
-     nghiên cứu vấn đề, đặt và kiểm tra các giả thuyết;
-     suy nghĩ thấu đáo những hệ quả của giải pháp; và sau cùng
-     quyết định chọn một giải pháp, rồi lại kiểm tra lần nữa trước khi chấp nhận hoặc bác bỏ.

Vậy, chỉ khi ta suy nghĩ và hành động có phương pháp, ta mới thu thập tri thức và kinh nghiệm để tiến tới kinh nghiệm cao hơn, xa hơn.

Wednesday, March 25, 2015

Nước Nhật đã cải cách nội dung chương trình và sách giáo khoa phổ thông các môn xã hội như thế nào sau chiến tranh thế giới thứ hai?

 Nguyễn Quốc Vương

Tính từ thời điểm năm 1945 tới nay, giáo dục Nhật  đã trải qua nhiều lần cải cách. Trong đó lần cải cách lớn nhất tạo nên bước ngoặt lịch sử cho dân tộc Nhật  xuất phát ngay sau khi  Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc và cuộc cải cách giáo dục gần đây nhất được đánh dấu bằng sự ra đời của Bản hướng dẫn học tập sửa đổi do Bộ giáo dục ban hành tháng 3 năm 2008. Bài viết này xin được điểm qua những nét lớn về sự thay đổi nội dung chương trình và sách giáo khoa phổ thông qua những lần cải cách ấy.

Vượt qua khủng hoảng
 Sau ngày 15-8-1945, giáo dục Nhật trải qua một khoảng thời gian “hỗn loạn” ngắn  do hậu quả của chiến tranh. Bất ngờ trước kết cục  chiến tranh, phần lớn  người dân Nhật chìm trong tâm trạng bi quan, chán nản và tuyệt vọng. Hai thành phố bị dội bom nguyên tử, nhiều trường học bị cháy vì những trận không kích của quân Đồng minh, kinh tế đình trệ và nạn khan hiếm lương thực trở nên trầm trọng. Trong  tình thế ấy Bộ giáo dục Nhật đã nhanh chóng có những bước đi cần thiết để đưa họat động trường học trở lại bình thường. Tròn một tháng sau ngày Thiên hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, Bộ giáo dục Nhật công bố bản “Phương châm giáo dục nhằm xây dựng nước Nhật Bản mới”. Bản phương châm 11 điểm  này nêu rõ nước Nhật cần xây dựng ngay một nền giáo dục mới để “loại trừ chủ nghĩa quân phiệt”, “giáo dục tư duy khoa học”, “làm sâu sắc văn hóa quốc dân”, “ xây dựng quốc gia hòa bình” và “đóng góp vào sự tiến bộ thế giới”. Bản phương châm cũng nêu lên những nguyên tắc cơ bản nhất trong việc xử lí nền giáo dục thời chiến,  tổ chức lại các đoàn thể học sinh, tái đào tạo giáo viên , tái tổ chức lại Bộ giáo dục…  Trong thời gian chờ sách giáo khoa mới xuất bản, Bộ giáo dục Nhật chỉ đạo các trường loại bỏ khỏi sách giáo khoa hiện hành những nội dung ca ngợi chủ nghĩa quân phiệt và đưa vào sử dụng đảm bảo cho kì học mới bắt đầu từ tháng 9 được tiến hành bình thường. Môn  Tu Thân vốn là môn học đóng vai trò  trụ cột  giáo dục cho học sinh lòng trung thành với Thiên hoàng và chủ nghĩa quân phiệt bị đình chỉ vĩnh viễn.

Thursday, February 12, 2015

Qu'est ce qu'un bon prof ?




Clermont Gauthier

Mis à jour le 15/06/2011


La question des méthodes pédagogiques a toujours soulevé des discours passionnés. Au Québec comme en France, le débat fait rage autour des réformes de l’enseignement. De plus en plus de travaux soulignent l’impact d’un « effet-prof » sur les performances des élèves. À partir de travaux anglo-saxons, le chercheur québécois Clermont Gauthier propose des clés pour un « enseignement efficace », s’appuyant sur une pédagogie explicite. Au passage, il renvoie dos à dos la pédagogie traditionnelle, centrée sur la transmission de savoirs, et les pédagogies « centrées sur l’élève ».
Existe-t-il des pratiques pédagogiques plus efficaces que d’autres ? Qu’en est-il de l’influence de l’enseignant sur l’apprentissage des élèves ? Celle-ci est-elle plus ou moins importante que d’autres facteurs tels que le milieu familial, la motivation de l’élève, son potentiel intellectuel ?
Sur le continent nord-américain, un nombre imposant d’études converge vers les conclusions suivantes : l’école, plus particulièrement l’enseignant par la manière dont il gère sa classe et son enseignement, a une forte influence sur l’apprentissage des élèves. En améliorant les pratiques pédagogiques, on améliore le rendement scolaire des élèves, et particulièrement ceux provenant de milieux socio-économiques faibles. C’est ce qu’avait déjà montré, en 1993, la publication de trois chercheurs américains (« What helps students learn ? » (1)) qui, à partir d’une recherche de grande envergure, soutenaient que l’enseignant est le premier facteur d’influence sur l’apprentissage des élèves, à travers, d’une part, sa manière de gérer sa classe et, d’autre part, son rôle dans le développement des processus métacognitifsu des élèves.
Depuis, d’autres études ont permis de calculer la « valeur ajoutée d’un enseignant » sur les gains de performance des élèves, en tenant compte des autres facteurs comme le niveau socio-économique, l’origine ethnique, les expériences scolaires antérieures (2)…
En définitive, notre compréhension de l’enseignement a grandement évolué depuis une trentaine d’années. Nombre de recherches ont été conduites dans les classes où les comportements des enseignants ont été décrits, analysés, et leurs effets sur l’apprentissage des élèves mesurés et comparés. Les résultats de ces études sont assez constants et indiquent qu’il existe des stratégies pédagogiques plus efficaces que d’autres. Il semble en effet que les approches que l’on pourrait qualifier d’« instructionnistes » soient associées à de meilleures performances des élèves que les approches par découverte. Elles constituent ce que Barak Rosenshine et Robert Stevens (3) appellent un modèle général d’enseignement efficace. Bien loin de réduire la complexité de l’enseignement à une sorte de technique mécaniste, ce modèle a l’avantage de formaliser et de faire ressortir des éléments importants que les enseignants performants prennent en compte. Ces éléments, validés par des recherches récentes, sont comme des signaux ou des indices qui leur servent de repères pour guider leur action.

Monday, February 2, 2015

Công dân toàn cầu và tâm hồn bộ lạc

 Nguyễn Khánh Trung


Khởi đầu năm mới 2015 cả thế giới bàng hoàng về vụ khủng bố giết người hàng loạt tại toà báo chấm biếm Charlie Hebdo – Paris – Pháp, đây có lẽ là một phần trong những phong trào thánh chiến mà điển hình nhất là sự nổi lên của “Nhà nước Hồi Giáo” đang làm cả thế giới lo lắng và rùng mình về mức độ bạo lực dã man chưa từng thấy mà các tay súng đã làm.
Ở một cực khác, chúng ta đang chứng kiến một thời đại mà biên giới quốc gia, khoảng cách địa lý dường như trở nên mờ nhạt, một chuyên gia của một công ty Mỹ có thể trả lời cho khách hàng tại Anh từ Ấn Độ; cách thức liên hệ trao đổi giữa hai đồng nghiệp trong một viện nghiên cứu ngồi bên cạnh nhau cũng không khác gì nhiều so với khi họ cách nhau nữa vòng trái đất.
Cả hai hiện tượng trên phải chăng là hai mặt của vấn đề “toàn cầu” và “bộ lạc” trong phát biểu của Piet Hein : “Chúng ta là công dân toàn cầu với tâm hồn bộ lạc”. Bộ lạc ở đây cũng có thể hiểu là quốc gia, là chủ nghĩa dân tộc hay rộng hơn là các thứ chủ nghĩa liên quan đến chính trị, tôn giáo và văn hoá, v.v…
Rõ ràng dù muốn hay không, dù mức độ hội nhập quốc tế thế nào, chúng ta cũng không thể và không nên cắt bỏ phần “bộ lạc” trong mỗi chúng ta. Và cũng không nên nhân danh “bộ lạc”, nhân danh cái riêng của mình để áp đặt, dùng bạo lực buộc những người khác, những nhóm khác phải theo các giá trị của riêng mình.

Thursday, January 15, 2015

41% trẻ em bị phạt bằng roi vọt



Thạc sĩ Bùi Tiến Huân (Viện Nghiên cứu giáo dục Trường ĐH Sư phạm TP.HCM)


TP - Kết quả điều tra đánh giá các mục tiêu về trẻ em và phụ nữ năm 2013-2014 của Tổng Cục thống kê Việt Nam và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc được công bố ngày 4/9 cho thấy, tỷ lệ trẻ em được bú sữa mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu vẫn thấp, tỷ lệ trẻ tử vong dưới 1 tháng tuổi có xu hướng tăng. Đời sống, trình độ của phụ nữ các vùng miền vẫn có sự chênh lệch rõ rệt.

Đó là một phần kết quả điều tra đánh giá các mục tiêu về trẻ em và phụ nữ năm 2013-2014 của Tổng Cục thống kê Việt Nam và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) được công bố ngày 4/9 tại Hà Nội.

Khảo sát 10 vấn đề lớn xoay quanh phụ nữ và trẻ em trên toàn quốc, bao gồm tỷ lệ trẻ tử vong, dinh dưỡng, nước và công trình vệ sinh, sức khỏe sinh sản… Ông Nguyễn Đình Chung, Phó Vụ trưởng Vụ thống kê Xã hội và Môi trường (Tổng cục thống kê), thông tin, 5 năm qua, tỷ suất trẻ tử vong dưới 5 tuổi chiếm khoảng hai mươi phần nghìn. Trong đó, đa số trẻ tử vong được xác định là dưới 1 tháng tuổi và con số này có xu hướng tăng lên.
Theo báo cáo, cả nước hiện có 24,3% trẻ em dưới 6 tháng tuổi được bú mẹ hoàn toàn, có tới 44,1% trẻ từ 0-23 tháng được cho bú bình bằng sữa ngoài. Theo các chuyên gia, số trẻ được bú mẹ hoàn toàn có tăng, nhưng vẫn quá thấp, trong khi Việt Nam đang phấn đấu đến năm 2020 đạt 60% trẻ sinh ra được bú mẹ hoàn toàn. Các em bé ở Hà Nội, TPHCM có tỷ lệ được bú mẹ ít hơn nhiều vùng miền khác. Thấp nhất là trẻ ở miền Đông Nam Bộ, bú mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu chỉ chiếm 7,4%, cao nhất là trẻ ở trung du miền núi phía Bắc, chiếm 41,0%.
Điều tra, đánh giá các mục tiêu về trẻ em và phụ nữ được UNICEF hỗ trợ triển khai ở 190 quốc gia và vùng lãnh thổ. Các kết quả đánh giá sẽ là cơ sở để ra các quyết định chính sách và chương trình hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, bóc lột và AIDS...

Monday, December 29, 2014

Viết sách giáo khoa: Từ những bộ sách âm thầm…- Hoàng Hương, Thư Hiên


TTCT – Từ nhiều năm nay ở Hà Nội và TP.HCM, không ít giáo viên và nhóm giáo viên đã tự biên soạn các bộ tài liệu dạy học để sử dụng bên cạnh hoặc thay thế kênh tài liệu chính thức là sách giáo khoa (SGK). 

Liệu đây có là một tiền đề thuận lợi cho chủ trương một chương trình – nhiều bộ SGK đang được triển khai?
 
Câu chuyện Hà Nội: Động lực để viết sách
Thầy Phạm Văn H. – cán bộ quản lý Trường THPT Nguyễn Trãi, Ba Đình, Hà Nội – là một giáo viên toán giàu kinh nghiệm. Để cuốn hút được học sinh, ông đúc kết: ngoài cái duyên sư phạm thì người thầy cần có nền tảng kiến thức tốt dựa trên một thời gian dài tích lũy của một quá trình học hỏi không ngừng.
Vì thế, thầy H. mua và đọc rất nhiều sách, rồi bắt đầu viết sách. Trong số sách tham khảo môn toán cấp THPT mà thầy tham gia viết, ba bộ đã được xuất bản.
Làm sao cạnh tranh về giá?
Trên thực tế, TP.HCM đã và đang biên soạn một bộ tài liệu dạy học cho bậc THCS, riêng bộ tài liệu môn vật lý đã được thử nghiệm tại một số trường THCS từ năm 2011 đến nay.
Bộ sách được đánh giá khá tốt vì tính ứng dụng, thực tiễn của nó. Tại nhiều trường, học sinh đã sử dụng tài liệu này thay cho SGK môn vật lý do Bộ GD-ĐT ban hành.
Tuy nhiên, giá thành của cuốn tài liệu dạy học vật lý cao hơn nhiều so với giá thành SGK của Bộ GD-ĐT. Chẳng hạn, cuốn tài liệu dạy học vật lý 7 có giá 40.000 đồng/cuốn, trong khi SGK Vật lý 7 của Bộ GD-ĐT chỉ có 5.500 đồng/cuốn.
Giải thích về điều này, một cán bộ Sở GD-ĐT TP.HCM cho biết: SGK Vật lý 7 của bộ chỉ có 88 trang, ít hình ảnh và được in chủ yếu với ba màu: trắng, đen, đỏ. Còn tài liệu dạy học vật lý 7 của Sở GD-ĐT TP.HCM có tới 180 trang, nhiều hình ảnh hơn, in bằng nhiều màu rất bắt mắt. Do số lượng bản in thấp hơn, lại không được trợ giúp về nhiều mặt (kể cả kinh phí) như SGK do bộ thực hiện, nên loại sách gần như “tư nhân” này (Nhà xuất bản giữ quyền công bố tác phẩm, chịu trách nhiệm biên tập, in ấn, phát hành… rồi trả tiền bản quyền cho tác giả) rất khó có mức giá thấp.
Theo các chuyên gia trong ngành xuất bản, giá thành SGK chính là sự lo lắng lớn nhất, khiến họ rất băn khoăn trong việc quyết định có tham gia làm SGK cho chương trình đổi mới sắp tới hay không. Sách “tư nhân” chắc chắn không thể cạnh tranh được với sách “nhà nước” về giá thành, chưa nói đến việc cạnh tranh trên những “kênh” phát hành, thẩm định…
H.HG.

Thursday, December 18, 2014

VÌ SAO TỘI ÁC LÊN NGÔI?




Tống Văn Công

Suốt mấy tuần qua, báo chí trong nước đăng nhiều bài phân tích nguyên nhân của hai vụ giết người cướp của ghê rợn xảy ra cùng thời gian ở Bắc Giang và Bình Dương. Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn thị Bình vốn là nhà giáo, bà bức xúc “rung chuông về giáo dục nhân cách.” Nhiều vị tiến sĩ tâm lý vào cuộc. TS Thạch Ngọc Yến có bài viết Thiếu vách chắn trước cơn bốc đồng, cho rằng các vụ này có “mẫu số chung là: Họ có một quá khứ không bình thường. Có thể là sự xáo trộn trong gia đình, là tuổi thơ bị bỏ rơi…” PGS-TS Lê Trọng Ân có bài Người lớn hãy làm gương, với mở đầu “Ông bà ta dạy: Con dại cái mang. Do đó con cái hư hỏng, cha mẹ phải xem lại mình..” Nhà báo Cao Tuấn có bài Sức mạnh kháng thể, “khái quát hơn cái ác có vẻ như đang ẩn hiện khắp nơi”. Thế nhưng ông lại nhận định: “Nó là sản phẩm “quái gỡ” (nhưng không nhiều) của một xã hội đang vận động đi lên-các yếu tố cũ, lạc hậu chưa mất hẳn và yếu tố mới, tiến bộ chưa định hình…Xét về mặt triết học, đây là thời kỳ chuyển tiếp không dễ dàng đối với bất cứ xã hội nào”. Lạ lùng là ông khuyên đừng “quá chú tâm truy tìm gốc rễ của những hiện tượng quái gỡ, hãy dành nhiều thời gian hơn để thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng lành mạnh”. Thật không khác nào trước con bệnh ngặt, lại khuyên thấy thuốc chớ chẩn đoán bệnh, mà hãy khuyến khích họ vui chơi, chạy nhảy!
Tôi không phải nhà nghiên cứu tâm lý, nhưng có lưu tâm đến vấn đề đạo đức xuống cấp, khi nghe anh Thái Duy (tức nhà văn Trần Đình Vân tác giả Sống như anh) từ miền Nam trở ra Hà Nội tâm sự: “Cậu ạ, Đảng mình có trách nhiệm đã làm xuống cấp đạo đức người dân Hà Nội. Hồi tớ đi học, mỗi khi thấy đám ma từ xa, cả bọn xuống xe đạp, giở mũ cuối đầu, chờ xe đi qua. Còn nay, bọn trẻ ngang nhiên phóng xe, lại còn lớn tiếng chửi thề, tại sao xe tang đi chậm cản đường!”. Tôi nghĩ đạo đức xuống cấp bắt đầu từ chuyện lớp trẻ chửi xe tang cản đường đã phát triển dần từng năm một! Tết Nguyên đán năm 2009, Hà Nội xảy ra vụ hằng trăm người xô đạp nhau tranh cướp hoa anh đào, tôi đã viết bài Vì sao đạo đức băng hoại tặng nhà thơ Hoàng Hưng và giáo sư Nguyễn Huệ Chi là hai người quan tâm vụ việc này. Gần ba năm qua, tình trạng xã hội và con người Việt Nam đã đi tới câu hỏi bức thiết hơn: Vì sao tội ác lên ngôi?