Monday, November 3, 2014

Thu nhập giảng viên cao nhất lên đến hơn 1 tỷ/năm

 Phạm Hiệp – Đàm Quang Minh

 - Lời tòa soạn: Trong bài viết mang tựa đề “Thu nhập thực của giảng viên đại học Việt N­am ở mức khá cao so với thế giới”, các tác giả Phạm Hiệp và Đàm Quang Minh đã nêu ra những kết quả sơ bộ của một điều tra gần đây do một nhóm các nhà khoa học đang làm việc và học tập tại Trường ĐH FPT và Trường ĐH Văn hoá Trung Hoa (Đài Loan) thực hiện.Dưới đây là nội dung bài viết.



Sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu (desk review) và phỏng vấn bán cấu trúc (semi structured interview) với hơn 40 nhà khoa học, giảng viên đã và đang làm việc tại một số cơ sở giáo dục ở Việt Nam, chúng tôi thu được một số kết quả khá bất ngờ: mặc dù mức lương cứng của giảng viên tại một số đại học hàng đầu ở Việt Nam có thể thấp, nhưng mức thu nhập thực lại khá cao; thậm chí cao hơn mức trung bình tại nhiều nước tiên tiến trên thế giới như Nhật, Pháp hay Argentina.
Thu nhập giảng viên cao nhất lên đến hơn 1 tỷ/năm
Bảng 1 thống kê thu nhập trung bình và % lương cơ bản trên tổng thu nhập hàng năm của giảng viên tại một số cơ sở giáo dục đại học hàng đầu ở Việt Nam phân theo bốn cấp độ (ThS, TS, PGS, GS) bao gồm:
·        Phân nhóm 1: Các Đại học Quốc gia, Đại học vùng và các đại học trọng điểm không tự chủ tài chính (vd: ĐHQGHN, ĐH Huế, Học Viện Nông nghiệp Việt Nam),
·        Phân nhóm 2: Các trường đại học công tự chủ tài chính (vd: Trường Đại học Ngoại thương, Trường Đại học Tôn Đức Thắng),
·        Phân nhóm 3: Các đơn vị/khoa/trung tâm liên kết quốc tế trực thuộc một số trường đại học công (vd: Khoa Quốc tế - ĐHQGHN, Trường Đại học Quốc tế - ĐHQGTpHCM),
·        Phân nhóm 4: Các trường đại học xuất sắc (vd: Trường Đại học Việt Đức, Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội);
·        Phân nhóm 5: Các trường đại học tư hàng đầu có chủ sở hữu trong nước (vd: Trường Đại học Tân Tạo, Trường Đại học Hoa Sen, Trường Đại học FPT).
·        Phân nhóm 6: Các trường đại học tư có chủ sở hữu nước ngoài (vd: Trường Đại học RMIT Việt Nam, Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam).

Monday, September 29, 2014

So sánh đối chiếu một số hệ thống giáo dục – Mai Văn Tỉnh

Mai Văn Tỉnh

So sánh đối chiếu các nền giáo dục thanh niên trên thế giới
từ đầu TK 20 tới đầu TK 21

Phần I:   Giáo dục thanh niên và cách tổ chức xã hội, chính trị cùng lý tưởng căn bản của các nền GD đó trong giai đoạn từ Đại chiến Thế giới I đến Đại chiến Thế giới II (1*)
Nội dung bài viết nhằm phân tích hai nhóm nước chính: 1) Pháp – Anh- Mỹ   (theo chế độ tự do); và 2) Ý – Đức – Nga  (theo chế độ chuyên chế/chuyên chính).Ngoài ra có bổ sung vài nhân xét về nền GD ở 2 nước độc lập ở A Đông là Nhật và Tàu là những nước đã cải cách GD theo Tây phương trong giai đoạn này.Việc phân tích được xem xét trên 3 khia cạnh:
+ Nguyên tắc giáo khoa;
+ Cách tổ chức đại cương các bậc học có chú trong bậc sơ học (Tiểu học);
+ Nền học của quần chúng
Nhận xét chugn về nền sơ học (tiểu học): Ở tất cả các nước bậc sơ học là bó buộc (cưỡng bức), không mất tiền. Chỉ định này là một lợi khí tối quan trọng, nếu không phải là duy nhất để mở mang dân trí – một bổn phận đầu tiên của các Chinh phủ.

I.- GIÁO DỤC Ở CÁC NƯỚC CỘNG HÒA THEO CHẾ ĐỘ TỰ DO: PHÁP – ANH – MỸ

  • Nền GD của Pháp quốc:dựa theo 2 nguyên tắc cơ bản là
  • 1) Thuyết nhân bản (Humanisme);
  • 2) Thuyết chủ trí và chủ lý (Intellectualism et Rationalite)
  • Về phương pháp: tổ chức GD để điều hòa các môn học nhằm làm cho thiếu niên có tài sản học thức “làm người”.

Friday, September 19, 2014

Gần 75% phụ huynh cho con học thêm

Hồ Sỹ Anh

Dù Bộ GD-ĐT cấm dạy thêm ở bậc tiểu học nhưng tới 74,6% phụ huynh có con bậc học này cho biết đã cho con đi học thêm. Trong đó 56,9% phụ huynh nêu lý do để củng cố kiến thức căn bản trong chương trình và bổ sung kiến thức nâng cao ngoài chương trình.

Đây là kết quả của khảo sát do Báo Thanh Niên thực hiện trong 2 tuần ở 6 tỉnh, thành với phụ huynh (PH) của hơn 140 trường tiểu học.

Càng không có thời gian cho con, càng để con học thêm
Có 74,6% số PH được hỏi trả lời có cho con học thêm và 25,4% trả lời không. Như vậy, có tới 3/4 PH cho con đi học thêm. Về địa phương thì PH ở Đà Nẵng có tỷ lệ cho con đi học cao nhất (88,2%), theo sau là TP.HCM (76,4%), Cần Thơ (74,5%), Hà Nội (74%) và thấp nhất là Bình Định (chỉ 65,2%). Đa số  PH đều cho con học thêm ngay từ tiểu học trong khi quy định của Bộ GD-ĐT là cấm dạy thêm ở bậc học này.
Có nhiều lý do để PH cho con đi học thêm. Trong đó, để củng cố kiến thức căn bản trong chương trình là cao nhất (31,2%), bổ sung kiến thức nâng cao ngoài chương trình (25,7%), tự nguyện vì thấy con thua kém bạn bè (22,3%). Như vậy, 2 lý do đầu chiếm trên 50%, nghĩa là PH muốn “nạp” thêm kiến thức vào đầu con trẻ càng nhiều càng tốt. Đây cũng là tâm lý chung của PH các nước châu Á, trong khi PH các nước phương Tây muốn cho con vừa học, vừa chơi để phát triển năng lực và trí tuệ của trẻ. Cần lưu ý là có 21,7% PH cho rằng do không có thời gian quản con nên cho con đi học thêm. Chỉ có 4,3% PH trả lời do giáo viên gây áp lực, bắt ép, trù dập nên cho con học thêm, trong đó Cần Thơ cao nhất (9,6%), kế đến là Hà Nội (6,1%) và Đà Nẵng là 5,9%, trong khi TP.HCM (2,6%) và Bình Định chỉ 1%.
Cũng có sự khác nhau giữa PH các tỉnh, thành phố về lý do để con học thêm. Vì không có thời gian quản con ở TP.HCM cao nhất (38%), kế đến là Đà Nẵng (32,4%), Hà Nội chỉ 9,2%, trong khi Cần Thơ (3,2%) và Quảng Nam (0%). Từ số liệu này, có thể suy ra thời gian và cường độ làm việc của PH ở TP.HCM và Đà Nẵng căng nhất.

Thursday, September 18, 2014

Cựu thủ tướng Đài Loan: 12 nguyên tắc dạy con gây ‘chấn động’

 An Nguyên (Tổng hợp

Không chỉ nổi tiếng là một chính khách có tầm ảnh hưởng rộng lớn, cựu thủ tướng Đài Loan Tôn Vận Tuyền còn được biết đến với những câu nói dạy con vô cùng thấm thía và xúc động.

Cuộc đời của nhà chính khách Tôn Vận Tuyền

Tôn Vận Tuyền là một nhà kinh tế, một chính trị gia Đài Loan, xuất thân là kỹ sư, quê ở Bồng Lai, Sơn Tây (Trung Quốc).
Ông làm Bộ trưởng gần 20 năm ở các Bộ Giao thông vận tải, Truyền thông và Kinh tế. Ông là Bộ trưởng Bộ Kinh tế từ năm 1969 đến 1978, sau đó được bầu làm Thủ tướng Đài Loan từ năm 1978 đến 1984.

Những câu nói “để đời” của Tôn Vận Tuyền dạy con
Không chỉ nổi tiếng là một chính khách có tầm ảnh hưởng rộng lớn, cựu thủ tướng Đài Loan Tôn Vận Tuyền còn được biết đến với những câu nói dạy con vô cùng thấm thía và xúc động. Cho đến nay, sau nhiều năm cựu thủ tướng Đài Loan Tôn Vận Tuyền viết thư cho con, công chúng vẫn truyền tay nhau những trích đoạn gây chấn động thế giới:

Tôn Vận Tuyền là một nhà kinh tế, một chính trị gia Đài Loan và các con khi còn nhỏ “Các con thân mến,
Viết những điều căn dặn này, cha dựa trên ba nguyên tắc như sau :
1. Đời sống là vô thường, không ai biết trước mình sống được bao lâu, có những việc cần, nếu được nói ra sớm để hiểu thì hay hơn.
2. Cha là Cha của các con, nếu không nói ra thì chắc không ai nói rõ với các con những việc này đâu!
3. Những điều căn dặn để ghi nhớ này là kết quả của bao kinh nghiệm xương máu, thất bại đắng cay trong cuộc đời của chính bản thân mà Cha ghi nhận được, Nó sẽ giúp các con tránh những nhầm lẫn hoang phí trên con đường trưởng thành của các con.
Dưới đây là những điều nên ghi nhớ trong cuộc đời :
1. Nếu có người đối xử với con không tốt, đừng thèm để tâm cho mất thời giờ. Trong cuộc đời này, không ai có bổn phận phải đối xử tốt với con cả, ngoại trừ cha và mẹ của các con.
2. Không có người nào mà không thể thay thế được cả; không có vật gì mà nhất thiết phải sở hữu ,bám chặt lấy nó. Nếu hiểu rõ được nguyên lý này, thì sau này trong cuộc đời, lỡ người bạn đời không còn muốn cùng đi trọn cuộc đời, hay vì lý do gì con bị mất đi những gì trân quý nhất trong đời con, thì cũng nên hiểu: đó cũng không phải là chuyện trời sập.

Sunday, August 3, 2014

Dạy con tự lập


Cẩm Nhung


Susan là bạn của gia đình tôi ở Mỹ. Có một thời gian quá bận rộn, Susan nhờ tôi chở con trai bà, David, tới lớp tennis. Những lần tiếp xúc ngắn chỉ 20 phút lái xe chở David tới trung tâm tennis, tôi rất ngạc nhiên vì cậu bé 10 tuổi này ăn nói chững chạc, chào hỏi, cảm ơn, hỏi tôi nhiều chuyện và có những quan điểm riêng mà cậu ấy không ngại ngần bộc lộ, khi chia sẻ về các môn học hay về các nước cậu ấy đã đi qua.
Một lần tôi tới chơi nhà Susan, đang ngồi nói chuyện thì Susan có điện thoại. “David để quên cuốn vở bài tập ở nhà. Nó nhờ tôi mang tới trường cho nó”. Rồi Susan hỏi tôi có muốn cùng bà đi bộ tới trường của David không. “Trường cách đây bao xa?”, tôi hỏi. “Đi bộ mất khoảng 20 phút”.
Trên đường đi, tôi hỏi Susan: “Tôi chắc chắn rằng David là một đứa bé rất tự tin và tự lập. Nhưng bà có nghĩ rằng giúp đỡ nó như thế này thì có chiều nó quá không?”. Susan trả lời: “David là một đứa trẻ ngoan. Hôm nay nó quên cuốn vở, tôi cũng đang rỗi rãi thì tôi sẽ mang tới cho nó”. “Nhưng bà có nghĩ rằng làm như vậy nó sẽ ỷ lại không?” “Không, chúng ta ai chẳng có lần quên cái này cái kia. Tôi dám chắc rằng David chẳng muốn bị quên vở tí nào”.

Friday, July 25, 2014

TS Nguyễn Khánh Trung: 'Kết quả học tập nên bí mật'

Phan Linh thực hiện


Để không gây áp lực cho học sinh tiểu học, TS Nguyễn Khánh Trung - Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục IRED - cho rằng kết quả học tập nên được xem là điều “bí mật”, chỉ lưu hành nội bộ giữa giáo viên, học sinh và phụ huynh.
 
- Trong Dự thảo Quy định đánh giá học sinh tiểu học của Bộ Giáo dục và Đào tạo mới đây có quy định đánh giá thường xuyên học sinh bằng nhận xét thay vì điểm số. Quan điểm của ông về vấn đề này thế nào?
- Tôi đồng tình và ủng hộ đổi mới phương thức đánh giá thường xuyên theo xu hướng giáo dục hiện đại mà Dự thảo đã phần nào thể hiện. Cách đánh giá này nếu làm đúng và nghiêm túc sẽ thay đổi cách dạy và học, cách làm chương trình giáo dục và sách giáo khoa, cách tổ chức bộ máy hành chính và sư phạm, làm cho giáo dục Việt Nam bớt “lạc đường” so với thiên hạ.
Tuy nhiên, nên hiểu đánh giá là một phần trong chương trình giáo dục bao gồm nhiều khâu như mục tiêu giáo dục, nội dung chương trình, phương pháp sư phạm… Tất cả phải được thiết kế trên một triết lý giáo dục. Do đó, muốn thay đổi một cách căn bản và có hiệu quả cần phải thay đổi một cách đồng bộ, trong đó phải thay đổi hẳn về tầm nhìn, tư duy, quan niệm về mục tiêu giáo dục trước khi thay đổi những thứ khác.

Monday, June 30, 2014

Môn triết học và mục tiêu đào tạo con người độc lập


Nguyễn Khánh Trung  

Học sinh trung học phổ thông ở Pháp phải thi
tốt nghiệp môn triết học.
Ngày 16/6 vừa qua, học sinh lớp 12 ở Pháp đã thi môn triết trong kỳ thi tú tài. Đọc các đề thi môn học này, chúng ta có thể thấy phần nào mục tiêu đào tạo con người có khả năng tư duy độc lập, lập luận một cách logic dựa trên lý tính và có óc phản biện mà giáo dục phổ thông của họ đặt ra.
Dưới đây là các đề thi môn triết dành cho các phân ban khác nhau trong bậc trung học phổ thông, mỗi ban đều có ba đề để thí sinh chọn một:

Đề thi của ban Khoa học (Bac Scientifique):

Đề 1: Phải chăng người nghệ sĩ (nghệ nhân) làm chủ tác phẩm của họ?

Đề 2: Phải chăng chúng ta sống để được hạnh phúc?

Đề 3: Yêu cầu thí sinh giải thích, bình luận một trích đoạn của Descartes trong tác phẩm “Règles pour la direction de l’esprit” (Các quy tắc hướng dẫn tinh thần) viết năm 1628, khoảng nửa trang. Thí sinh được yêu cầu không cần thiết phải liệt kê những kiến thức liên quan đến học thuyết của triết gia, mà chỉ cần chứng tỏ mình hiểu chính xác bản văn và các vấn đề mà bản văn đặt ra.

Tôi đọc một đề xuất “đáp án” của đề thi này trên trang Ledudiant.fr thì thấy thí sinh được gợi ý trước tiên phải trình bày rõ những vấn đề mà triết gia Descartes đặt ra, mà trong đoạn trích nói trên, vấn đề trung tâm là: Tại sao cần xem toán học là một mẫu hình của tất cả loại hình nghiên cứu về sự thật. Các thí sinh phải tìm cách làm rõ luận thuyết này trong bối cảnh của bản văn, liên hệ đến tư tưởng của các triết gia khác như Nietzsche hay của Kant. Trong phần kết luận, thí sinh được khuyên nên trình bày các giới hạn của học thuyết Descartes bằng cách sử dụng lý luận của các nhà phê bình...