Trần Thanh Ái
Tóm tắt:
Có lẽ đó là câu hỏi mà đa số tân sinh viên đều tự hỏi khi bước vào
ngưỡng cửa đại học. Trong bài viết này, trước hết tôi sẽ điểm lại một số
biến động sâu sắc của khoa học có tác động trực tiếp đến cách thức đào
tạo đại học và cách học của sinh viên. Sau đó, tôi sẽ trình bày những
nét cơ bản của đào tạo đại học. Cuối cùng, tôi sẽ nêu những đặc điểm của
đào tạo theo học chế tín chỉ hiện nay để các tân sinh viên có được
những khái niệm tổng quát về việc học của mình sắp tới.
Học đại học như thế nào?
có lẽ là một trong những băn khoăn hàng đầu của các em tân sinh viên,
khi các em vừa trải qua hành trình ở phổ thông với nhiều bất cập mà báo
chí đã đề cập đến rất nhiều trong những năm qua. Các từ và cụm từ “học
vẹt”, “hư học”, “học thụ động”, “học để lấy bằng”… thường được dùng để
phê phán lề lối học tập mà nhiều em vẫn áp dụng, ngay cả khi đã bước
chân vào trường đại học. Điều đó hàm ý rằng học sinh và sinh viên cần
thay đổi cách thức học tập, nhất là khi nước ta đang hội nhập sâu rộng
vào các mặt hoạt động của thế giới. Trong bài viết này, tôi muốn trình
bày một số vấn đề liên quan đến việc học ở đại học trong thời đại ngày
nay. Tôi sẽ bắt đầu từ những sự thay đổi trong quan niệm về kiến thức
khoa học, vì đó chính là đối tượng của việc học của sinh viên.
1.1. Kiến thức khoa học là tạm thời vì luôn thay đổi
Khoa học càng phát triển thì loài người càng trở nên khiêm tốn hơn. Thật vậy, cho đến cuối thế kỷ XIX, nhân loại đã hả hê tự mãn về những thành quả khoa học đã có trong các thế kỷ trước, cho rằng thế giới là hữu hạn, và chỉ cần thời gian là con người sẽ hiểu hết mọi bí ẩn của vũ trụ. Từ khi thuyết lượng tử của Planck và thuyết tương đối của Einstein ra đời, người ta biết được rằng vũ trụ là bao la vô tận, và kiến thức của con người chỉ có thể tiệm cận với thế giới khách quan mà thôi. Hơn thế nữa, kiến thức không còn được xem là bất di bất dịch, mà nó luôn thay đổi tương ứng với trình độ nhận thức của loài người. Theo Thomas Kuhn, nhà khoa học luận nổi tiếng người Mỹ, khoa học phát triển theo hai cách : tích lũy dần dần và đột phá cách mạng. Theo cách thứ nhất, kiến thức cũ luôn luôn được bổ sung cho chi tiết hơn, được điều chỉnh cho chính xác hơn : đó là sự tiến bộ của khoa học bình thường (normal science). Cách thứ hai là sự phát triển mang tính cách mạng, khi khoa học bình thường ấy không còn đủ khả năng giải thích những phản thí dụ, mà Kuhn gọi là anomalies, và sẽ rơi vào khủng hoảng. Lúc ấy sẽ xảy ra một cuộc cách mạng khoa học, vì nó biến đổi sâu sắc nền tảng của kiến thức khoa học.
Từ những nhận thức trên đây, người ta đi đến kết luận là kiến thức khoa học luôn biến đổi, khi thì để bổ khuyết, lúc lại phủ định kiến thức cũ: cái mà hôm qua ta cho là chân lý khoa học thì có thể hôm nay đã trở thành lạc hậu. Điều này có ý nghĩa to lớn đến thái độ của chúng ta đối với kiến thức khoa học cũng như đến cách thức mà chúng ta tiếp thu hay sản sinh kiến thức khoa học.