Monday, January 7, 2013

Đại học là bộ não tư duy của xã hội

Trong truyền thống đại học các nước Âu - Mỹ, triết học được xem la trung tâm, là khoa học của mọi khoa học bởi công việc chính của nó là tư duy, là suy tư, nói cho dễ hiểu là suy nghĩ. Suy nghĩ, biết suy nghĩ có phương pháp, kết hợp với trí tưởng tượng, tính tò mò nơi con người sẽ dẫn đến sáng tạo, phát minh, phát kiến, và cứ như thế cái mới được thành hình, các lý thuyết mới, các ngành khoa học mới ra đời và phát triển. Như vậy, vai trò của tư duy là hết sức quan trọng, là sức sống, sức khoẻ của đại học. Trường này hơn trường kia là có tích tụ được nhiều hàm lượng tri thức thông qua hoạt động tư duy hay không, xã hội này hơn xã hội khác là có tạo ra được một hệ thống giáo dục nói chung và đại học nói riêng nuôi dưỡng, phát triển  tư duy của con người hay không.

Như vậy tư duy là hoạt động nền tảng, là dưỡng khí của đại học, và đại học lại là bộ não của xã hội, là nơi soi sáng, dẫn đường cho cả xã hội đi. Cứ lô - gic này, chúng ta nhìn vào hiện trạng, vào đời sống của nền giáo dục, của hệ thống đại học của một nước sẽ biết hiện trạng và tương lai của nước đó. Có lẽ giáo dục đang là đề tài nóng bỏng, được đề cập, tranh luận nhiều ở nước ta hiện nay cũng vì ít nhiều mọi người ý thức được tầm quan trọng của nó.

Saturday, January 5, 2013

Giảng dạy đại học: tinh thần, phương pháp và văn hoá

Nguyen Khanh Trung

(TTCT) Trước khi nói đến giảng dạy tinh thần, phương pháp và văn hoá trong đại học, chúng ta cần bàn về mục tiêu đào tạo.


Mục tiêu đào tạo (sản phẩm đào tạo) 


Chúng ta muốn đào tạo mẫu người sinh viên ra trường như thế nào ? Vì nhiều lý do khác nhau, câu hỏi đơn giản nhưng căn bản này vẫn chưa được trả lời một cách rõ ràng. Phải dứt khoát trả lời cấu hỏi này thật rõ trước khi bắt tay thay đổi các khâu khác trong giảng dạy. Tuyên ngôn Quốc tế về giáo dục đại học trong thế kỷ 21 đã tuyên bố về vấn đề này: “Các định chế gd đại học cần phải giáo dục sinh viên như thế nào để họ thực sự trở thành những công dân được trang bị đầy đủ những kiến thức cần thiết và có động cơ hoạt động đúng đắn, sâu sắc. Đó phải là những người có khả năng tư duy phê phán, biết cách phân tích các vấn đề của xã hội, biết tìm ra các giải pháp cho các vấn đề của xã hội, và thực hiện điều này với ý thức trách nhiệm đầy đủ.” (điều 9, điểm b). Nghĩa là đại học phải tạo ra một biến đổi nơi người học sau khi ra trường, sinh viên không những phải có kiến thức, nhưng còn phải biết làm, biết sống, biết làm cho những kiến thức kỹ năng học hỏi được trở thành máu thịt của mình. Người sinh viên, sau khi trải qua quá trình đào tạo phải trở thành một người hoàn toàn khác so với bản thân họ trước khi vào trường. Họ phải biết và biết làm, biết phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề, biết phê phán một cách độc lập, biết khiêm tốn trong tinh thần khoa học, biết chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt trong văn hoá, biết dấn thân và giám chịu trách nhiệm, biết hợp tác với người khác, biết làm việc nhóm và thích ứng với mọi môi trường công việc. vv. 


Để thực hiện mục tiêu trên, đại học phải thay đổi trong mọi khâu trong quy trình đào tạo, từ nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy đến cách thức tổ chức hành chánh, nhân sự, sư phạm cũng như các sinh hoạt đoàn thể trong trường đại học với tinh thần như sau:


Giảng dạy tinh thần khoa học


Giảng dạy tinh thần khoa học trước tiên là truyền thụ tinh thần “nói có sách mách có chứng”, nghĩa là chúng ta tránh chuyện khẳng định như “đinh đóng cột” mà không có đủ bằng chứng để chứng minh, hay bằng chứng chưa được kiểm chứng, một chiều, bị chính trị hoá. Trong thực tế giảng dạy đại học hiện nay, chúng ta thường xuyên vi phạm nguyên tắc này vì nhiều lý do, nhất là trong lãnh vực khoa học xã hội và nhân văn, nhiều điều chỉ mới ở dạng giả thuyết, nhưng chúng ta đã truyền thụ đến sinh viên như là những chân lý bất di bất dịch. Tinh thần khoa học còn là sự chủ động, biết nghi ngờ, biết đặt lại các vấn đề và phê phán, phản biện, tranh luận… với thái độ khiêm tốn, biết tôn trọng ý kiến người khác, tôn trọng tư tưởng ngược chiều. Trong môi trường đại học hiện nay, chúng ta thiếu tinh thần này. Trong các hội thảo, các buổi bảo vệ các loại luận văn cuối khoá, người ta sẵn sàng “choảng” nhau với thái độ và ngôn ngữ khẳng định kiểu “hết sức sai lầm” hoặc “rất đúng đắn”… những kiểu nói mà tôi chưa bao giờ được nghe ở các hội nghị khoa học ở nước ngoài. Trong khoa học, nhất là trong khoa học xã hội, không ai giám xem các kết luận khoa học là tuyệt đối và có giá trị phổ quát. Một kết luận khoa học đã được kiểm chứng trong môi trường văn hoá này, có thể không đúng trong một môi trường văn hoá khác, một công trình khoa học được thực hiện ở thời điểm hiện nay, không có nghĩa là nó có giá trị trong mười năm nữa. Tinh thần của thế giới hiện nay là đa cực tương đối, các khẳng định tuyệt đối kiểu “chủ nghĩa“ có lẽ không còn phù hợp. 


Giảng dạy phương pháp khoa học


Trong thời đại thông tin hiện này, chúng ta không thể lo nhồi nhét kiến thức mà xem nhẹ giảng dạy phương pháp như thực tế hiện nay tại các trường đại học. Bởi kiến thức là vô tận và liên tục biến đổi trong khi đời sinh viên là hữu hạn, nên tại trường, các em phải được trang bị vững về phương pháp (phương pháp học, phương pháp làm, phương pháp nghiên cứu, phương pháp tư duy…), để từ đó các em có khả năng tự học, tự nghiên cứu và thực hành ở mọi môi trường và trải dài suốt cuộc đời. Phương pháp sư phạm hiện đại phải đặt sinh viên làm trung tâm của mọi quan tâm, của mọi quan hệ. Sinh viên phải là đối tác độc lập trong quá trình tiếp nhận các kỹ năng và kiến thức, xa hơn nữa, phải làm cho họ trở thành những chủ thể xây dựng chính các kiến thức và kỹ năng đó với sự trợ giúp, hướng dẫn của giảng viện, chứ không chỉ bị động đón nhận những kiến thức của người khác như sinh viên của chúng ta hiện nay. Điều này đòi hỏi phải có một đội ngũ giảng viên thấm nhuần tinh thần này và được trang bị các phương pháp sư phạm hiện đại, cũng như đại học phải tạo ra một môi trường phù hợp từ cơ sở vật chất, sắp xếp cấu tạo chương trình về nội dung, về thời lượng, và những chính sách hỗ trợ.



Giảng dạy văn hoá


Giáo dục ở đâu và thời điểm nào cũng có chức năng chuyển tải văn hoá bên cạnh chức năng chuyển tải và sản xuất tri thức và kỹ năng. Hiểu theo nghĩa thông thường đó là chuyển tải những cái hay, cái đẹp, những chuẩn mực, giá trị, những kiến thức kinh nghiệm được tích lọc từ những thế hệ trước. Trường đại học làm nhiệm vụ này thông qua mọi khâu trong quy trình giảng dạy. Tuy nhiên thế nào là “văn hoá” được truyền thụ trong nhà trường, hay nói theo ngôn ngữ của Pierre Bourdieu là “văn hoá học đường” (culture scolaire)[1], lại là một vấn đề lớn cần tranh luận. Bourdieu đã khẳng định, văn hoá học đường tại Pháp (vào trước cuộc cách mạng gd tháng 5/1968) là văn hoá của giai cấp cai trị, điều này tạo ra hiện tượng “sốc văn hoá” nơi con em thuộc các giai cấp dưới, và hiện tượng này giải thích tại sao con em của tầng lớp này lại không thành công trong đường học vấn so với con em của giai cấp trên. Như vậy, nhà trường đã bị biến thành công cụ làm tái tạo lại bất công xã hội kiểu “Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa”, chứ không hề là định chế góp phần làm giảm bất công xã hội như lý tưởng của các nhà sáng lập nền cộng hoà Pháp đã tuyên bố. Tại Việt Nam, xét trên mọi bình diện, văn hoá học đường hiện nay cũng chỉ là thứ văn hoá của một nhóm, và điều đáng ngại là văn hoá này hầu như không mấy ăn nhịp với các văn hoá đến từ các vùng khác trong xã hội như định chế gia đình, định chế kinh tế hay từ “ xã hội dân sự”... Đáng ngại, vì trường đại học trở thành nơi “hà hiếp” văn hoá hơn là nơi gặp gỡ giao thoa văn hoá. Sinh viên có nguồn gốc xã hội khác nhau đang bị đóng khung trong một thứ văn hoá không phải lúc nào cũng thân thiện, phù hợp với “tập tính” của các em đã được hình thành thông qua quá trình xã hội hoá trong môi trường gia đình, khu xóm, tôn giáo, môi trường xã hội hiện đại với sự ảnh hưởng tác động của phim ảnh, sách vở, internet chuyển tải đủ thứ văn hoá khác. Các em sẽ khó phát triển một cách hài hoà khi giáo dục nhà trường mâu thuẫn với gd gia đình, gd tôn giáo. Các em sẽ lúng túng nếu những chuẩn mực và giá trị được đón nhận từ nhà trường lại chẳng ăn nhằm gì với các chuẩn mực và giá trị đòi hỏi từ thị trường lao động… Tóm lại, văn hoá học đường mà trường đại học chuyển tải phải là một tích hợp một cách hài hoà, công bằng từ nhiều nguồn, nhiều nhóm, nhiều tầng lớp ở trong xã hội và rộng ra là trên thế giới, chứ không chỉ là ý chí riêng của bất kỳ một nhóm nào. Văn hoá học đường phải ở dạng mở và cách thức chuyển tải nó đến với sinh viên cũng phải ở dạng mở, nhằm tạo điều kiện phát triển óc tư duy và phê phán độc lập nơi sinh viên, cũng như tạo điều kiện cho sinh viên ra trường có thể thích ứng với mọi môi trường làm việc trong nước hay quốc tế trong thời kỳ hội nhập hiện nay.

Nguồn: http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan/304034/giang-day-dai-hoc-tinh-than-phuong-phap-va-van-hoa.html




[1] Dưới góc độ xã hội học, văn hoá luôn gắn liền với những điều kiện, với những hoàn cảnh, với môi trường sống của con người. Trong một xã hội, có thể có nhiều nền văn hoá khác nhau trong đó văn hoá được chọn lựa, được phổ biến bao trùm lên các nhóm xã hội khác nhau cũng chỉ là một loại, và đó thường là văn hoá của nhóm cầm quyền.

Friday, January 4, 2013

Cải cách, hiện đại hóa giáo dục (tiếp và hết)

Viện Nghiên cứu Phát triển IDS

5.3. Xây dựng mới một hay hai đại học đa ngành hiện đại, đạt các chuẩn mực
quốc tế về mọi mặt, làm hoa tiêu thúc đẩy toàn ngành đại học hội nhập với thế
giới
Mối nguy hại của việc phát triển giáo dục bừa bãi bất chấp chuẩn mực đã quá rõ khi hội
nhập, buộc chúng ta phải thay đổi nhận thức và tìm mọi cách khắc phục tình trạng đó.
11) Cách phân ban từ 2007 đến nay tuy có mềm dẽo hơn trước (nhờ có ban cơ bản) nhưng vẫn còn rất cứng
nhắc đối với hai ban KHTN và KHXH và không hiệu quả đối với ban cơ bản.
15
Song cái khó là vì đã bỏ qua chuẩn mực một thời gian quá lâu, không chỉ trong giáo dục
mà cả trong khoa học, nên chúng ta rât thiếu những nhà quản lý thật sự am hiểu các
chuẩn mực phát triển giáo dục, khoa học hiện đại. Thời gian qua cho thấy nhận thức của
phần đông các nhà quản lý ở lĩnh vực này có nhiều mặt phiến diện, xa thực tế, nói chung
rất chủ quan trong hàng loạt vấn đề quan trọng liên quan việc đào tạo tiến sĩ, công nhận
các chức vụ GS, PGS, đánh giá các công trình khoa học, đánh giá chất lượng đại học nói
chung. Chỉ xem trong vấn đề đại học đẳng cấp quốc tế, đại học thuộc top 200, cũng đủ
thấy rõ sự hiểu biết của cơ quan quản lý của chúng ta về giáo dục đại học hiện đại trên
thế giới còn quá thô sơ, quá xa thực tế. Trong tình hình đó, khó có thể khắc phục tình
trạng phát triển bừa bãi và khó khôi phục được trật tự, chuẩn mực chỉ bằng công tác kiểm
định và xếp hạng. Bằng chứng là trong ba năm 2005-2008 đã tiêu tốn một số tiền không
nhỏ (gần 1,5 triệu Euro) cho dự án đảm bảo chất lượng đại học, nhưng đến nay công tác
này vẫn rất lúng túng chưa có kết quả gì rõ ràng. Cùng với những khoản chi tiêu về khảo
thí, các khoản chi tiêu về kiểm định và xếp hạng đã ngốn hết bao nhiêu phần ngân sách
và đã đưa lại những kết quả gì thiết thực giải quyết vấn đề chất lượng đại học Việt Nam,
có lẽ đây là lúc cần nhìn lại tỉnh táo hơn trước khi lao vào những dự án đầu tư mới.

Thursday, January 3, 2013

Cải cách, hiện đại hóa giáo dục (tiếp theo)

       
Viện Nghiên cứu Phát triển IDS

5. Một số việc cấp bách cần làm trong khi chưa cải cách

Việc chuẩn bị cải cách có thể mất một vài năm. Trong thời gian đó, cần chú ý một số vấn
đề cấp bách cần giải quyết để tạo cơ sở và mở đường chuyển dần sang cải cách một cách
thuận lợi. Chúng tôi kiến nghị tạm dừng việc thông qua Chiến lược phát triển Giáo dục
2009-2020 và một số Dự án, Đề án khác có liên quan. Bản điều trần 2004 có đề nghị 3
vấn đề về giáo dục phổ thông và 7 vấn đề về giáo dục đại học. Gần bốn năm qua, tuy các
vấn đề này có tiến triển ít nhiều, nhưng đến nay hầu hết vẫn chưa được thật sự giải quyết,
do đó vẫn cần được tiếp tục quan tâm. Mặt khác, tình hình kinh tế khó khăn với nhiều
thách thức trước mắt đòi hỏi ngành giáo dục cần có những nổ lực đặc biệt góp phần
cùng toàn xã hội vượt qua thách thức, khó khăn, biến thách thức thành cơ hội tạo
chuyển biến mạnh mẽ chuẩn bị cho công cuộc chấn hưng giáo dục về lâu dài.


Wednesday, January 2, 2013

Cải cách, hiện đại hóa giáo dục (tiếp theo)

       
Viện Nghiên cứu Phát triển IDS

4. Chấn hưng, cải cách giáo dục là mệnh lệnh cuộc sống

Trước tình hình khủng hoảng của giáo dục, bản điều trần 2004 đã kiến nghị xây dựng lại
giáo dục từ gốc, trên cơ sở một triêt lý giáo dục mới, phù hợp với xu thế chung của thời
đại và yêu cầu phát triển của đất nước. Nội dung cơ bản của triết lý này đã được trình bày
rõ trong bản điều trần (toàn bộ phần II của bản điều trần), xin không nhắc lại ở đây.
Vài năm nay, nhận thấy giáo dục vẫn tiếp tục sa lầy trong suy thoái, nhiều nhà giáo, nhà
khoa học, nhiều thức giả trong và ngoài nước cũng đã góp thêm tiếng nói tâm huyết kêu
gọi cải cách giáo dục. Đặc biệt Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đã bày tỏ lo lắng sâu sắc
trước sự suy thoái của giáo dục. Chưa bao giờ xã hội Việt Nam có sự đồng thuận cao
như hiện nay về sự cần thiết phải cải cách giáo dục.

Thật ra không phải chỉ gần đây khủng hoảng giáo dục mới được báo động, mà ngay từ
năm 1995, trong một hội nghị ba ngày do Thủ Tướng Võ Văn Kiệt hồi ấy triệu tập và chủ
trì đã có ý kiến thẳng thắn nêu lên thực trạng nguy kịch của giáo dục và lên tiếng kêu cứu
cho ngành này. Nghị quyết TƯ II khóa 8 đã đúc kết những nhận định và kiến nghị tâm
huyết đề xuất trong hội nghị đó và trong một số hội thảo tiếp theo. Tiếc rằng từ bấy đến
nay đã 13 năm giáo dục vẫn ì ạch, chưa có dấu hiệu bứt ra được khỏi thế trì trệ triền
miên. Trong thời gian ấy biết bao cơ hội đã mở ra, và cũng có biết bao thách thức xuất
hiện ở phía trước! Nếu tới đây sức ỳ này vẫn tiếp tục chi phối giáo dục thì mục tiêu Việt
Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 rất ít hy
vọng có thể thực hiện được.

Tuesday, January 1, 2013

Cải cách, hiện đại hóa giáo dục (tiếp)

Viện Nghiên cứu Phát triển IDS


3. Các nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng của giáo dục

Tại sao một dân tộc vốn có truyền thống hiếu học lâu đời mà giáo dục lại rơi vào suy
thoái trầm trọng vào đúng lúc nó phải là bệ phóng cho sự phát triển của đất nước?
Hoàn toàn không phải do nghèo, vì công sức, tiền của lãng phí, thất thoát ngay trong
ngành giáo dục rất lớn. Nguyên nhân khủng hoảng phải trung thực nhìn nhận chủ yếu là
do lãnh đạo bất cập, trước hết là lãnh đạo của TƯ.
2) Theo trình bày của Bộ GD-ĐT (http://www.vietnamnet.vn/giaoduc/2008/12/818314/), đến 2020 mỗi đại
học ấy sẽ có 50% giảng viên trở lên có bằng tiến sĩ, mỗi cán bộ có ít nhất 2 công bố trên tạp chí quốc tế uy
tín, ... . Nêu chỉ vậy chưa thể coi là “đẳng cấp quốc tế”, càng không thể thuộc top 200 trên thế giới, mà mới
chỉ là loại kém đối với một nước, chưa nói đến quốc tế. Chúng ta đã phạm sai lầm lớn hạ thấp chuẩn mực
để có hàng vạn tiến sĩ, hàng nghìn PGS, GS, với hậu quả như thế nào mọi người đã biết. Giờ đây lại hạ thấp
chuẩn mực để chóng có nhiều đại học đẳng cấp quốc tế và đại học lọt vào top 200 trên thế giới ?

Kiến nghị Cải cách, hiện đại hóa giáo dục

Viện Nghiên cứu Phát triển IDS

Sau hai thập kỷ tăng trưởng kinh tế ấn tượng dựa chủ yếu vào vốn đầu tư, lao động giá rẻ
và tài nguyên thiên nhiên, đã đến lúc muốn tiếp tục đi lên một cách bền vững đất nước
cần mau chóng chuyển sang hình thái phát triển mới, dựa chủ yếu vào trí tuệ và tài năng.
Do đó chưa bao giờ chấn hưng giáo dục trở thành nhiệm vụ bức thiết như lúc này. Mười
ba năm trước TƯ đã có nghị quyết xác định phát triển giáo dục, đào tạo và khoa học,
công nghệ là quốc sách hàng đầu. Nghị quyết rất đúng đắn, tiếc rằng việc triển khai thực
hiện bất cập nên sau gần mười năm, Thủ Tướng Phan Văn Khải đã phải thừa nhận chúng
ta không thành công trong giáo dục và khoa học.

 
Với ý thức trách nhiệm công dân, năm 2004 một nhóm 24 nhà giáo dục, khoa học và văn
hóa đã gửi lên TƯ một bản điều trần kêu gọi cải cách, hiện đại hóa giáo dục. Bản điều
trần này đã được nhiều tầng lớp xã hội hưởng ứng rộng rãi. Từ đó đến nay, tuy tình hình
đã có nhiều thay đổi lớn, song những vấn đề được đề cập trong bản điều trần về cơ bản
vẫn còn nóng hổi tính thời sự và vẫn tiếp tục là mối quan tâm hàng đầu của bất cứ ai lo
lắng đến tương lai con em và tiền đồ dân tộc. Vì vậy, chúng tôi khẩn thiết kiến nghị TƯ
một lần nữa xem xét nghiêm túc các vấn đề nêu trong bản điều trần để kịp thời lựa chọn
quyết sách chấn hưng giáo dục.